vanban.org

Bản án 25/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 16/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D K
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HS-ST
Ngày: 16-7-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D K, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1996 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Ô 4, lô 41, khu tái định cư thôn Đ L, xã V Th, Nha Trang, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th (sinh năm 1975) và bà Nguyễn Thị Y (sinh năm 1974); tiền sự: Không; tiền án: Ngày 17/01/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 18/01/2020; nhân thân: Ngày 30/8/2013, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa đưa vào cơ sở chữa bệnh tại trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Khánh Hòa về hành vi nghiện ma túy, chấp hành xong vào ngày 08/6/2015. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2021 tại nhà tạm giữ Công an huyện D K; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ dân phố P L T 4, thị trấn D K, huyện D K, Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa. .

* Người làm chứng:

- Lâm Thanh H, sinh năm 1981; Trú tại: Tổ dân phố P L T 4, thị trấn D K, huyện D K, Khánh Hòa.

- Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1968; Trú tại: Tổ dân phố P L T 4, thị trấn D K, huyện D K, Khánh Hòa.

- Phan Tấn Đ, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Đ 2, xã Diên Đ, huyện D K, Khánh Hòa.

- Phạm Văn Ngh, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ dân phố P B C 2, thị trấn D K, huyện D K, Khánh Hòa. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 23/3/2021, Nguyễn Văn C mang theo một túi xách bằng vải, bên trong đựng 01 kềm cộng lực, 01 kéo, 01 tuýp sắt đi xe buýt từ xã V Th, Thành phố N T lên huyện D K, tỉnh Khánh Hòa để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực ngã tư Thành, Thị trấn D K, C xuống xe rồi đi bộ dọc theo tuyến đường trên địa bàn huyện D K tìm tài sản sơ hở. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nghĩa trang Gò Sạn, thuộc Tổ dân phố P L T 1, thị trấn D K, thấy có đông người đang đưa tang, bên trong có nhiều xe mô tô. C đi vào đến gần Nhà linh rồi rẽ trái đi theo đường đất, lấy nhang có sẵn thắp cho các ngôi mộ để quan sát và đánh lạc hướng người khác. Khi thấy xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 79D1 - 572.69 của anh Nguyễn Hoàng V không có người trông coi, ổ khóa điện gắn sẵn chìa khóa. C tiến đến, nổ máy điều khiển xe chạy theo hướng ra Tỉnh lộ 8. Lúc này, anh V đang xây mộ gần đó phát hiện C trộm xe nên truy hô “Ăn trộm, ăn trộm” và đuổi theo C. Nghe tiếng truy hô, anh Lâm Thanh H và anh Nguyễn Tấn H1 đang làm cùng anh V cũng chạy bộ đuổi theo C. C điều khiển xe trộm cắp chạy được hơn 50 mét, thấy có người dự đám tang tại Nhà linh ra chặn đường nên bỏ lại xe, chạy bộ theo đường bê tông hướng vào núi để trốn. Các anh V, H và H1 đuổi theo bắt giữ, đưa C cùng xe mô tô biển kiểm soát 79D1 - 572.69 đến Công an Thị trấn D K trình báo sự việc. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 25/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D K xác định giá trị của chiếc xe mô tô 79D1 - 572.69 là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D K, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bản cáo trạng số 25/CT-VKSDK ngày 31/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo C từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2021. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 79D1 - 572.69 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp - anh Nguyễn Hoàng V nên đề nghị không xét. Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng: 01 túi xách vải màu xám; 01 kềm cộng lực bằng sắt, màu cam, cán bọc nhựa màu đen, dài 30cm; 01 kéo bằng sắt, cán bọc nhựa màu đen, dài 18cm; 01 tuýp sắt loại 08mm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

ơ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Bị hại và người làm chứng đều vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ; căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/3/2021 tại khu vực nghĩa trang Gò Sạn, Nguyễn Văn C đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 79D1 - 572.69 có giá trị là 18.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên bản Cáo trạng số 25/CT-VKSDK ngày 31/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

ơ

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh, trật tự địa phương. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động nên bị cáo vẫn thực hiện để kiếm tiền sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, cần phải xét xử bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, cần bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo C. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại nên cần xem xét các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo. [4] Về trách nhiệm dân sự: Tại hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét. [5] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 79D1 - 572.69 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (anh Nguyễn Hoàng V) nên không xem xét.

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) túi xách vải màu xám; 01 (một) kềm cộng lực bằng sắt, màu cam, cán bọc nhựa màu đen, dài 30cm; 01 (một) kéo bằng sắt, cán bọc nhựa màu đen, dài 18cm; 01 tuýp sắt loại 08mm. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

- Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án. 2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi xách vải màu xám; 01 (một) kềm cộng lực bằng sắt, màu cam, cán bọc nhựa màu đen, dài 30cm; 01 (một) kéo bằng sắt, cán bọc nhựa màu đen, dài 18cm; 01 tuýp sắt loại 08mm (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D K và Chi cục thi hành án dân sự huyện D K).

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ