- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Hữu P, bị cáo Lê Cảnh T - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh T và Hoàng Hữu P phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁNNHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-PT Ngày: 13 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thiết Hùng;
Bà Đoàn Thị Kim Thương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2021/HSPT ngày 02/11/2021 đối với bị cáo Hoàng Hữu P và Lê Cảnh T, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2021/HSST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân Huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Bị cáo bị kháng nghị:
1. Hoàng Hữu P, sinh ngày 19/3/2004 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Nại C, xã T, Huyện P, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Thúy H, sinh năm 1970.
Tiền án, tiền sự: Không:
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/4/2021 đến 08/6/2021 thì được tại ngoại. Hiện nay bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Cảnh T, sinh ngày 13/4/2000 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn B, xã T, Huyện P, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Cảnh Q, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1972.
Tiền án, tiền sự: Không:
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/3/2021 đến 26/3/2021 thì được tại ngoại (theo Quyết định tạm giữ và Quyết định gia hạn tạm giữ lần 02 của Công an quận Long Biên, Hà Nội).
Ngày 26/5/2021 bị Công an Huyện Triệu Phong bắt tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra còn có bị cáo Trần Đ H, Trương Võ Chí C, Trần Minh Đ không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:
* Người đại diện hợp pháp và là người bào chữa cho bị cáo Hoàng Hữu P:
Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn Nại C, xã T, Huyện P, tỉnh Quảng Trị (là bố của bị cáo P); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đ H, Hoàng Hữu P, Trương Võ Chí C, Trần Minh Đ cùng trú tại Thôn Nại C, xã T, Huyện P, tỉnh Quảng Trị và Lê Cảnh T là bạn bè với nhau. Qua tìm hiểu H, P và C biết được địa chỉ Website “Weebly.com” cho phép người dung truy cập bằng tài khoản gmail sau đó dùng tài khoản gmail đã đăng ký để thiết lập Website cho riêng mình. Khi thiết lập Website có thể thêm vào mục “liên hệ” có các ô trống mà khi người khác đăng nhập thông tin vào ô trống này thì toàn bộ thông tin sẽ được gửi về tài khoản gmail. Chính vì vậy H, P, C đã nảy sinh ý định dùng tính năng phản hồi thông tin này để thu thập thông tin tài khoản ngân hàng trực tuyến của người khác sau đó truy cập vào tài khoản ngân hàng để chiếm đoạt tiền trong tài khoản. H và P nhờ 01 người không quen biết mở giúp cho mỗi người một tài khoản Website “Weebly.com”. Tên đăng nhập gmail của H là [email protected] tên đăng nhập của P là [email protected] sau đó H và P đăng nhập các tài khoản này để đăng nhập thiết lập Website có địa chỉ “cHennhantienquocte24h.Website” và “nhantienbanking World. Weebl.com”. Tại các trang Web này có các mục ô trống, có các thôn tin gồm: Tên đăng nhập Banking của chủ tài khoản là (số điện thoại). Mật khẩu, mã OTP.
H, P, C dùng facebook giả nhắn tin hỏi mua hàng và xin số tài khoản của bị hại. Sau khi thỏa thuận xong giá cả các mặt hàng, các đối tượng dùng điện thoại di động hoặc facebook nhắn vào số điện thoại hoặc facebook của bị hại nội dung “tài khoản số…đã được cộng vào số tiền và gửi cùng trang web đến có nội dung quý khách vui lòng xác nhận đúng thông tin tại đây”. Khi các bị hại nhập vào đường link trang web mà H, P, C gửi qua và điền các thông tin vào ô trống trên web thì toàn bộ thông tin về tài khoản ngân hàng của các bị hại sẽ được gửi về các mail của bị cáo. Nhận được thông tin đó H, P, C truy cập vào tài khoản ngân hàng và thực hiện lệnh chuyển tiền thì ngân hàng sẽ gửi mã OTP cho chủ tài khoản (bị hại) thì theo yêu cầu của các đối tượng, các bị hại cung cấp mã OTP thì tiền sẽ được chuyển ngay theo lệnh chuyển tiền trước đó. Với thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 09 đến cuối tháng 12 năm 2020 Trần Đ H, Hoàng Hữu P, Trương Võ Chí C cùng với sự giúp sức của Trần Minh Đ, Lê Cảnh T đã thực hiện chiếm đoạt tài sản 11 vụ trong đó bị cáo Hoàng Hữu P và Lê Cảnh T thực hiện các vụ cụ thể như sau:
Vụ thứ 01: Ngày 21/9/2020, Hoàng Hữu P sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Bảo N vào hội nhóm rao vặt trên mạng xã hội Facebook thì thấy chị Lê Thị A, sinh năm 1996 trú tại số nhà 31, ngõ 29b, đường Nguyễn Đ C, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An có tài khoản Facebook “Hoa Oải Hương” đăng bài bán cam và ổi. P nhắn tin giả vờ đặt mua cho người nhà 02 tạ cam với giá 3.600.000 đồng và nói hiện P đang ở Nhật không thể chuyển tiền bằng giao dịch thông thường, chỉ chuyển tiền thông qua hệ thống quốc tế Westery Union. Sau đó P gửi link Weebsite “nhantienbanking World. Weebly.com” cho chị Ah, yêu cầu chị Ah điền đầy đủ thông tin vào các ô trống. Sau khi chị Ah điền đầy đủ các thông tin vào tài khoản ngân hàng, số điện thoại thì mọi thông tin này được gửi về gmail [email protected], của P. Sau khi nhận được thông tin, P truy cập vào tài khoản ngân hàng đã nêu trên để chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng Agribank số 3600205462137 của chị A thực hiện lệnh chuyển số tiền 8.900.000 đồng từ tài khoản chị A sang tài khoản Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn số 34718110001của chị Nguyễn Thị G là đại lý game KingFun để mua thẻ game. Sau đó P sử dụng điện thoại gọi điện cho chị Lê Thị A để lấy mã OTP rồi nhập vào ứng dụng banking trên máy điện thoại của P và hoàn thành việc chiếm đoạt tiền số tiền 8.900.000 đồng của chị A.
Vụ thứ 03: Ngày 25/11/2020, Hoàng Hữu P sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Bảo N vào hội nhóm rao vặt đăng bài “Ai có đồ gì pass thì ib mình” thì chị Đỗ Thị Lệ X, sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã P, Huyện V, tỉnh Hưng Yên có tài khoản Facebook Lệ X đã nhắn tin cho P để bán 02 chiếc váy. P giả vờ có nhu cầu mua nên hai bên nhắn tin trao đổi thỏa thuận giá cả, sau đó sử dụng phương thức như củ để chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng Techcombank số 19036259671014 của chị Đỗ Thị Lệ X rồi thực hiện lệnh chuyển số tiền 2.940.000 đồng từ tài khoản chị X sang tài khoản ngân hàng Techcombank số 19020604988898 của Công ty Cổ phần giải pháp thanh toán VN để mua thẻ game.
Vụ thứ 04: Ngày 01/12/2020, P, H, C về nhà Tr thuê Tr chở lên khách sạn T ở để thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Khi về đến nhà Tr thấy bố mẹ Tr đi vắng P liền nói “Cho bọn tao ở đây làm cũng được”. Tr hiểu P muốn mượn nhà Tr để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (vì Tr thường xuyên đi với H, C, P) nên Tr đồng ý. Được sự đồng ý của Tr, Hoàng Hữu P ở sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Bảo N vào hội nhóm rao vặt thì thấy chị Vũ Thu An, sinh năm 1995, trú tại: số 6, ngõ 113, đường T, phố V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình có tài khoản Facebook Vũ Thu A đăng bài bán một chiếc váy. P đã sử dụng ứng dụng mesenger nhắn tin đặt mua với giá 260.000 đồng và nói với chị A hiện P đang ở Nhật không thể chuyển tiền bằng giao dịch thông thường chỉ chuyển tiền thông qua hệ thống quốc tế Westery Union. Sau đó P gửi link Weebsite “nhantienbanking World. Weebly.com” cho chị A, yêu cầu chị A điền đầy đủ thông tin vào các ô trống. Do chị A không có tài khoản ngân hàng nên đã mượn thông tin tài khoản ngân hàng của chị gái là Vũ Thị Ánh V. Sau khi chị A điền đầy đủ các thông tin vào tài khoản ngân hàng, số điện thoại của chị Vân vào các ô trống thì mọi thông tin này được gửi về gmail “[email protected]” của P. P tiếp tục thục hiện các phương thức thủ đoạn như đã nêu trên để chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng Agribank số 3303205041310 của chị Vũ Thị Ánh V và thực hiện lệnh chuyển số tiền 18.000.000đ từ tài khoản chị Vân sang tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) số 26010001323158 của Tran Van H, H trích lại 15% rồi chuyển sang tài khoản ngân hàng Vietcombank của Lê Cảnh T sau đó P lấy thẻ ATM của Tr đến cây ATM ở Nại Cửu, Triệu Thành rút tiền về tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ 05: Ngày 02/12/2020, Hoàng Hữu P sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Bảo N vào hội nhóm rao vặt thì thấy chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1998 lại số Nghách 79/40/17 D, quận C có tài khoản Facebook Nguyễn Thị Thu T đăng bài bán một chiếc áo. P đã sử dụng ứng dụng mesenger của tài khoản Face book Hoàng Bảo N nhắn tin đặt mua chiếc áo với giá 150.000đ và nói với chị T hiện P đang ở Nhật không thể chuyển tiền bằng giao dịch thông thường chỉ chuyển tiền thông qua hệ thống quốc tế Westery Union. Sau đó P gửi link Weebsite “nhantienbanking World. Weebly.com cho chị T, yêu cầu chị T điền đầy đủ thông tin vào các ô trống. Sau khi chị T điền đầy đủ các thông tin vào tài khoản ngân hàng, số diện thoại thì mọi thông tin này được gửi vê gmail “[email protected]” của P. Sau đó P tiếp tục thực hiện các phương thức thủ đoạn như đã nêu trên để chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng BIDV số 21510002095061 của chị T và thực hiện lệnh chuyển số tiền 6.500.000 đ từ tài khoản chị T sang tài khoản sang tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) số 26010001323158 của Tran Van H, H trích lại 15% rồi chuyển sang tài khoản ngân hàng Vietcombank của Lê Cảnh T sau đó P lấy thẻ ATM của Tr đến cây ATM rút tiền về tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ 06: Ngày 08/12/2020, Hoàng Hữu P sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Bảo N vào hội nhóm rao vặt thì thấy chị Trần Bảo H, sinh năm 1999 trú tại 793/49/16 S, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có tài khoản Facebook “Selena Trịnh” đăng bài bán một cái áo. P đã sử dụng ứng dụng meseenger nhắn tin đặt mua cho người nhà với giá 150.000đ và nói với chị H hiện P đang ở Nhật không thể chuyển tiền bằng giao dịch thông thường chỉ chuyển tiền thông qua hệ thống quốc tế Westery Union. P gửi link Weebsite “nhantienbanking World. Weebly.com” cho chị H, yêu cầu chị H điền đầy đủ thông tin vào các ô trống. Sau khi chị H điền đầy đủ các thông tin vào tài khoản ngân hàng, số điện thoại thì mọi thông tin này được gửi về gmail “[email protected]” của P. P tiếp tục thực hiện các phương thức thủ đoạn như đã nêu trên để chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng Agribank số 1900206343786 của chị H và thực hiện lệnh chuyển số tiền 1.755.000 đồng từ tài khoản chị H sang tài khoản sang tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) số 26010001323158 của Tran Van H. P sử dụng điện thoại gọi điện cho chị H để lấy mã OTP rồi nhập vào ứng dụng banking trên máy điện thoại của P và hoàn thành việc chiếm đoạt tiền số tiền 1.755.000 đồng của chị H chuyển sang tài khoản Tran Van H. H trích lại 15% rồi chuyển sang tài khoảng ngân hàng Vietcombank số của Lê Cảnh T sau đó P lấy thẻ ATM của Tr đến cây ATM rút tiền về tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ 08: Ngày 08/12/2020, Hoàng Hữu P sử dụng tài khoản Face book Nguyễn Bảo N vào hội nhóm rao vặt thì thấy chị Nguyễn Hà P, sinh năm 2002 trú tại số Tổ 14, phường L, quận B, Hà Nội có tài khoản Facebook “Tường Vi” đăng bài bán một chiếc áo khoác. P sử dụng ứng dụng mesenger nhắn tin đặt mua cho người nhà với giá 280.000 đồng và nói với chị P hiện P đang ở Nhật không thể chuyển tiền bằng giao dịch thông thường chỉ chuyển tiền thông qua hệ thống quốc tế Westery Union. P gửi link Weebsite “nhantienbanking World. Weebly.com” cho chị P, yêu cầu chị P điền đầy đủ thông tin vào các ô trống. Sau khi chị P điền đầy đủ các thông tin vào tài khoản ngân hàng, số điện thoại thì mọi thông tin này được gửi về gmail “[email protected]” của P. P tiếp tục thực hiện các phương thức thủ đoạn như đã nêu trên để chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng Techcombank số 19035486332017, của chị P. Khi chiếm đoạt được quyền sử dụng tài khoản của chị P, P kiểm tra tài khoản thì thấy trong tài khoản chị P còn gần 20.000.000 đồng nhưng tài khoản ngân hàng này không thể thực hiện lệnh chuyển tiền sang tài khoản khác trên số điện thoại không đăng ký với ngân hàng mà chỉ chuyển khoản để mua card điện thoại. Lúc này tiền nhiều một mình P không thể mua card qua phần mềm Vban.vn trên điện thoại một lúc mà không để bị hại phát hiện nên P đã nhờ H, C, Tr, Đ giúp sức. Cả nhóm biết việc P thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị P nhưng vẫn đồng ý giúp sức. Cụ thể là: P sử dụng máy điện thoại Iphone 10 của P nhắn tin trao đổi với chị Phương và đăng nhập vào tài khoản ngân nhàng của chị P; H đưa điện thoại Iphone 11 của H cho Đ sử dụng để đăng nhập vào ứng dụng Vn.Vban để mua 10 mã thẻ card điện thoại với mệnh giá 500.000 đồng/ 1 mã thẻ; Tr cho P mượn điện thoại Vimas Joy3 để P đăng nhập ứng dụng Vban.vn để mua 18 mã thẻ card điện thoại với mệnh giá 500.000 đồng/ 1 mã thẻ; C sử dụng Iphone 11 của C đăng nhập vào ứng dụng Vban.vn để mua 10 mã thẻ card điện thoại với mệnh giá 500.000 đồng/1 mã thẻ. Sau khi mọi người đã đăng nhập vào ứng dụng Vban.vn để mua thẻ card cho P thì H dùng điện thoại I phone 11 của H gọi điện cho chị P giả danh nhân viên ngân hàng quốc tế để lấy mã OTP rồi đọc cho C, Đ, P nhập vào ứng dụng Vban.vn để hoàn thành việc mua mã card điện thoại. Sau khi có được mã card điện thoại P đã nhờ Lê Cảnh L liên hệ với Lê Cảnh A để bán số mã card điện thoại nói trên. Sau khi bán xong A chuyển tiền lại cho L, L chuyển vào tài khoản của Lê Cảnh T sau đó đó P lấy thẻ ATM của Tr đến cây ATM rút tiền về tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền các bị can chiếm đoạt của chị Nguyễn Hà P là 18.620.000 đồng.
Vụ thứ 09: Ngày 09/12/2020, Hoàng Hữu P sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Bảo N vào hội nhóm rao vặt thì thấy chị Nguyễn Hoàng Tường V, sinh năm 2002 trú tại số nhà 26, nghách 41, ngõ 401 C, quận B, Hà Nội có tài khoản Facebook “Tường Vi” đăng bài bán son môi. P sử dụng ứng dụng Mesenger nhắn tin đặt mua cho người nhà với giá 200.000 đồng và nói với chị V hiện P đang ở Nhật không thể chuyển tiền bằng giao dịch thông thường chỉ chuyển tiền thông qua hệ thống quốc tế Westery Union. Sau đó P gửi link Weebsite “nhantienbanking World. Weebly.com” cho chị V, yêu cầu chị V điền đầy đủ thông tin vào các ô trống. Sau khi chị V điền đầy đủ các thông tin vào tài khoản ngân hàng, số điện thoại thì mọi thông tin này được gửi về gmail “[email protected]” của P. P truy cập vào tài khoản ngân hàng BIDVsố 44010000796281 của chị V và thực hiện lệnh chuyển số tiền 19.000.000 đồng từ tài khoản chị V sang tài khoản ngân hàng Vietinbank số 101871862854 của Tran Van H. P sử dụng điện thoại gọi điện cho chị V để lấy mã OTP rồi nhập vào ứng dụng banking trên máy điện thoại của P và hoàn thành việc chiếm đoạt tiền số tiền 19.000.000 đồng của chị V. Sau khi nhận tiền, Tran Van H trích lại 15% rồi chuyển sang tài khoản ngân hàng Vietcombank của Lê Cảnh T sau đó P lấy thẻ ATM của Tr đến cây ATM rút tiền về tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ 11: Ngày 10/12/2020, Trần Đ H sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Thị Thùy T vào hội nhóm rao vặt thì thấy chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1991, trú tại: K379/55 T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng có tài khoản Facebook “Lùn Tĩn” đăng bài bán rong biển Hàn Quốc, H đã giã vờ nhắn tin mua hàng. Sau đó sử dụng phương thức như cũ để chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần số 2555001459 của chị N rồi thực hiện lệnh chuyển tiền trực tuyến chuyển 20.000.000đ từ tài khoản của chị N sang tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) số 26010001323158 của Tran Van H là một người H quen biết trên đại lý game King Fun. Sau khi nhận tiền Trần Đ H chuyển từ tài khoản chị N sang chủ tài khoản Tran Van H trích lại 15% rồi chuyển sang tài khoản ngân hàng Agribank của Lê Cảnh T sau đó H lấy thẻ ATM của Tr đến cây ATM rút tiền về tiêu xài cá nhân.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2021/HS-ST ngày 23/9/2021 Toà án nhân dân Huyện Triệu Phong đã quyết định: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290, các điểm b, s, r khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Cảnh T: 09 (chín) tháng tù.
Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu P: 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng.
Ngoài ra Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo Trần Đức H, Trương Võ Chí C, Trần Minh Đ về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22/10/2021 Viện trưởng VKSND tỉnh Quảng Trị kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 27/2021/HSST ngày 23/9/2021 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm vụ án, sửa bản án theo hướng: Tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Cảnh T và không cho bị cáo Hoàng Hữu P được hưởng án treo với lý do:
Đối với bị cáo Hoàng Hữu P phạm tội quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 BLHS có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm. Mặc dù, bị cáo chưa thành niên nhưng là bị cáo đầu vụ, trực tiếp thực hiện 07 lần phạm tội, số tiền chiếm đoạt lớn thứ 02 trong vụ án. Cấp sơ thẩm cho hưởng án treo là không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thiếu tính răn đe cải tạo đối với bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Lê Cảnh T thực hiện 05 vụ là người đã thành niên nhưng không can ngăn bị cáo khác mà còn giúp sức. Số tiền bị cáo giúp sức chiếm đoạt lớn nhất trong vụ án, bị cáo phạm tội quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 BLHS nhưng cấp sơ thẩm xử phạt mức án 09 tháng tù là quá nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, hậu quả của tội phạm và không phù hợp với các mức án đã tuyên đối với các bị cáo khác trong vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 336; khoản 2 Điều 338; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a, d khoản 2 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận nội dung kháng nghị của VKSND tại Quyết định kháng nghị số 1552/QĐ-VKS-P7 ngày 22/10/2021, sửa bản án sơ thẩm số 27/2021/HSST ngày 23/9/2021 của TAND Huyện Triệu Phong theo hướng: Tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Cảnh T, đề nghị xử phạt: Từ 15 - 18 tháng tù (tức tăng từ 06 - 09 tháng tù). Không cho bị cáo Hoàng Hữu P được hưởng án treo: Giữ nguyên mức án 15 tháng tù, không cho bị cáo hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Hoàng Hữu P đề nghị HĐXX cho bị cáo P được hưởng án treo để tiếp tục học tập và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phù hợp với các Điều 336, 337 BLTTHS nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng nghị theo quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội: Trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2020 Trần Đức H, Hoàng Hữu P, Lê Cảnh T, Trương Võ Chí C và Trần Minh Đ đã có hành vi sử dụng mạng máy tính viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của nhiều cá nhân trong đó Hoàng Hữu P chiếm đoạt của 07 người với số tiền là 75.715.000 đồng; Lê Cảnh T giúp sức cho Hoàng Hữu P chiếm đoạt của 04 người với số tiền 57.375.000 đồng và giúp Trần Đức H chiếm đoạt của 01 người với số tiền 20.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử thấy:
Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại các điểm s, b khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Tr được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Hoàng Hữu P khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng Điều 91, 101 BLHS.
Tại giai đoạn phúc thẩm gia đình bị cáo P cung cấp giấy xác nhận của trường THPT N bị cáo chuẩn bị nhập học lớp 11 năm học 2021 - 2022. HĐXX thấy rằng, bị cáo phạm tội khi mới 16 tuổi 06 tháng, có quá trình nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện tại đã nhập học trở lại, việc cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 91 BLHS về nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Mặt khác, bị cáo không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, không chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Quảng Trị về việc không cho bị cáo Hoàng Hữu P được hưởng án treo.
Đối với bị cáo Lê Cảnh T HĐXX thấy rằng, bị cáo là người đã thành niên nhưng khi biết hành vi của các bị cáo khác đã không can ngăn mà còn giúp sức tích cực cho các bị cáo dùng số tài khoản ngân hàng và điện thoại của mình để chiếm đoạt tiền của nhiều người bị hại; bị cáo đã cùng thực hiện 05 vụ, số tiền chiếm đoạt là 77.375.000 đồng. Mặc dù, vai trò của bị cáo là giúp sức, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo là người đã thành niên, số tiền chiếm đoạt lớn nhất trong vụ án nên mức án 09 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Tr là chưa tương xứng với vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo. HĐXX thấy rằng, cần chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Quảng Trị về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Cảnh T.
. Ra Quyết tạm giam bị cáo Lê Cảnh T để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, sửa bản án sơ thẩm.
2. Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh T và Hoàng Hữu P phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
3. Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290, các điểm b, s, r khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Cảnh T: 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2021 và được trừ 09 ngày tạm giữ tại Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội từ ngày 18/3/2021 đến 26/3/2021.
Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu P: 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/9/2021)
Giao bị cáo Hoàng Hữu P cho Uỷ ban nhân dân xã Triệu T, Huyện P, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - TAND Huyện Triệu Phong (02 bản); - Công an Huyện Triệu Phong; - VKSND Huyện Triệu Phong; - Chi cục THADS Triệu Phong; - UBND xã Triệu Thành; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà |