vanban.org

Bản án 25/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 24/03/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2020/HS-ST ngày 19/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, m khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu N 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2021, được trừ thời gian tạm giữ, tạm gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2020/HS-ST ngày 19/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HS-PT
Ngày 24-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm.

Các Thẩm phán: Ông Trần Mười.

Bà Trần Thị Bé.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2021/TLPT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2021 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2020/HS-ST ngày 19/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu N, sinh ngày 28/04/1983 tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T, sinh năm 1946 và con bà Đỗ Thị L, sinh năm 1943; Vợ: Bùi Thị Thu Th, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Có 02 con: sinh năm 2008 và sinh năm 2012; đều cư trú: thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2019 đến ngày 30/8/2019 thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 19/3/2021 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Nguyễn Hữu N gặp và quen biết Lý Thị Kim Ng, sinh năm 1984, ở tại thôn L, xã M, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.

Khoảng tháng 3/2019, Lý Thị Kim Ng gặp một đối tượng tên P (chưa xác định được lai lịch và chỗ ở) bàn bạc, việc mua, bán các sợi dây chuyền làm bằng kim loại có màu vàng bên ngoài (gọi tắt là vàng giả), Lý Thị Kim Ng sẽ là người trực tiếp mang dây chuyền vàng giả đến các tiệm vàng để bán với số tiền tương đương loại vàng 24k. Sau khi bán được mỗi sợi dây chuyền vàng giả loại 05 chỉ thì Lý Thị Kim Ng đưa cho đối tượng tên P 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), sợi dây chuyền vàng giả loại 10 (mười) chỉ thì đưa cho đối tượng tên P 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng), số tiền còn lại thuộc về Lý Thị Kim Ng. Sau đó, Lý Thị Kim Ng rủ Nguyễn Hữu N mang các sợi dây chuyền vàng giả của đối tượng tên P đến các tiệm vàng ở các huyện Bình Sơn, Nghĩa Hành, Trà Bồng thuộc tỉnh Quãng Ngãi để lừa bán với thỏa thuận: bán được sợi dây chuyền vàng giả loại 05 (năm) chỉ Nguyễn Hữu N được 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền công, bán được sợi dây chuyền vàng giả loại 10 (mười) chỉ Nguyễn Hữu N được 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền công thì Nguyễn Hữu N đồng ý. Nguyễn Hữu N và Lý Thị Kim Ng bàn bạc với nhau: khi bán dây chuyền vàng giả thì Nguyễn Hữu N nói là thua cá độ, thua đánh bạc nên bán vàng để trả nợ, Nguyễn Hữu N sẽ đeo dây chuyền vàng giả lên cổ rồi khi bán thì gỡ xuống đưa cho chủ tiệm vàng để khỏi nghi ngờ. Mặt khác, mỗi lần đưa dây chuyền vàng giả cho Nguyễn Hữu N đi bán, Lý Thị Kim Ng còn đưa cho Nguyễn Hữu N một chiếc nhẫn vàng thật để bán cùng với dây chuyền vàng giả để người mua tin tưởng dây chuyền vàng giả là vàng thật. Sau khi lừa bán được dây chuyền vàng giả thì Nguyễn Hữu N đưa lại nhẫn vàng thật và tài sản có được từ việc bán dây chuyền vàng giả cho Lý Thị Kim Ng, lần đi bán tiếp theo thì Lý Thị Kim Ng sẽ tiếp tục đưa nhẫn vàng thật và dây chuyền vàng giả cho Nguyễn Hữu N. Lý Thị Kim Ng và Nguyễn Hữu N đến thuê phòng trọ của Võ Thạnh Điền V, sinh năm 1972, ở tại tổ dân phố 2, thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi để ở và mua dây chuyền vàng giả từ đối tượng tên P rồi cùng nhau đi bán. Lý Thị Kim Ng đưa xe mô tô biển kiểm soát 74F1-358.xx, nhãn hiệu: ATTILA, màu sơn đỏ để Nguyễn Hữu N dùng làm phương tiện đi bán dây chuyền vàng giả. Trong khoảng thời gian tháng 3 và tháng 4 năm 2019, Nguyễn Hữu N và Lý Thị Kim Ng đã cùng nhau thực hiện 09 vụ bán dây chuyền vàng giả tại huyện Bình Sơn và 04 vụ bán dây chuyền vàng giả tại huyện Nghĩa Hành, chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 3 năm 2019, Nguyễn Hữu N bán cho tiệm vàng Hà Nam Hiền H ở tại thôn T, xã B, huyện Bình Sơn (chủ tiệm vàng là Nguyễn Thị H) một sợi dây chuyền vàng giả 05 (năm) chỉ, trên sợi dây chuyền có in ký hiệu “H.SƠN” và chiếm đoạt số tiền 17.400.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 02: Sau khi bán dây chuyền vàng giả tại tiệm vàng Hà Nam Hiền H nói trên, Nguyễn Hữu N tiếp tục đi đến tiệm vàng KO ở tại thôn T, xã B, huyện Bình Sơn gặp chủ tiệm vàng là Võ Thị Hoàng O bán một sợi dây chuyền vàng giả 10 (mười) chỉ, có in ký hiệu “H.SƠN”, với số tiền chiếm đoạt là: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

Vụ thứ 03: Ngày 16/3/2019, Nguyễn Hữu N bán cho tiệm vàng Tám T2 ở tại thôn Tân Hy 1, xã Bình Đông (chủ tiệm vàng là Bùi Thị T2) một sợi dây chuyền vàng giả 05 (năm) chỉ, có in ký hiệu “MD 980”, số tiền chiếm đoạt là: 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 04: Ngày 17/3/2019, Nguyễn Hữu N bán cho tiệm vàng Thủy H2 ở tại thôn 6, xã B, huyện Bình Sơn (chủ tiệm vàng là Trương Thị Thúy H2) một sợi dây chuyền vàng giả 05 (năm) chỉ, có in ký hiệu “MD 980”, với số tiền chiếm đoạt 17.350.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Vụ thứ 05: Sau khi bán dây chuyền vàng giả tại tiệm vàng Thủy H2, Nguyễn Hữu N tiếp tục đến khu vực chợ xã Bình Đông, bị cáo bán cho tiệm vàng Tân Huy Ph (chủ tiệm vàng là Nguyễn Thành T) một sợi dây chuyền vàng giả 10 (mười) chỉ, số tiền chiếm đoạt là: 34.000.000đồng (Ba mươi bốn triệu đồng).

Vụ thứ 06: Ngày 20/3/2019, Nguyễn Hữu N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F1-358.20 chở Lý Thị Kim Ng đến xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, Khi đến chợ xã Bình Hòa, Lý Thị Kim Ng đến tiệm vàng Thành T3 gặp Phạm Thị Thu Tr, sinh năm 1971, ở tại thôn 5, xã B, để hàn (nối) lại sợi dây chuyền vàng thật bị gãy, còn Nguyễn Hữu N một mình vào tiệm vàng Loan S gặp chủ tiệm vàng là Trương Thị Kim S bán sợi dây chuyền vàng giả có in ký hiệu “MD 980” số tiền chiếm đoạt là: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

Vụ thứ 07: Ngày 24/3/2019, Nguyễn Hữu N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F1-358.xx chở Lý Thị Kim Ng đến xã Bình Hòa, khi đến chợ xã B, Nguyễn Hữu N một mình vào tiệm vàng Thủy H2 gặp chủ tiệm vàng là Trương Thị Thúy H2 bán một sợi dây chuyền vàng giả 10 (mười) chỉ có in ký hiệu “KL980”, với số tiền chiếm đoạt là: 34.700.000 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 08: Lý Thị Kim Ng đến tiệm vàng Thành T3 ở tại thôn 5, xã B, huyện Bình Sơn gặp chủ tiệm là chị Phạm Thị Thu Tr bán sợi dây chuyền vàng giả với số tiền 16.625.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Bị cáo thừa nhận đã có hành vi đồng phạm giúp sức với Lý Thị Kim Ng trong việc Ng bán dây chuyền vàng giả cho tiệm vàng Thành T3 và đồng ý bồi thường số tiền thiệt hại cho chị Tr số tiền 16.625.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Vụ thứ 09: Ngày 25/3/2019, Nguyễn Hữu N bán cho tiệm vàng Đặng Thế Đ ở tại tổ dân phố P, thị trấn C, huyện Nghĩa Hành (chủ tiệm vàng là Phạm Thị Tuyết Nh) bán sợi dây chuyền vàng giả 10 (mười) chỉ, có in ký hiệu “KL980”, với số tiền chiếm đoạt là: 35.700.000 đồng (Ba mươi lăm triệu bảy trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 10: Ngày 03/4/2019, Nguyễn Hữu N bán cho tiệm vàng Thanh T4 ở tại thôn Hiệp Phổ Tây, xã Hành Trung, huyện Nghĩa Hành (chủ tiệm vàng là Nguyễn Thị H3) một sợi dây chuyền vàng giả 10 (mười) chỉ, có in ký hiệu “MD 980” với số tiền chiếm đoạt là: 35.400.000 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 11: Sau khi bán dây chuyền vàng giả tại tiệm vàng Thanh T4, Nguyễn Hữu N tiếp tục bán cho tiệm vàng Đặng Th ở tại tổ dân phố P, thị trấn C, huyện Nghĩa Hành (chủ tiệm vàng là Đặng Th) một sợi dây chuyền vàng giả 10 (mười) chỉ, có in ký hiệu “KL” với số tiền chiếm đoạt là: 35.700.000 đồng (ba mươi lăm triệu bảy trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 12: Sau khi bán dây chuyền vàng giả tại tiệm vàng Đặng Th, Nguyễn Hữu N tiếp tục bán cho tiệm vàng Nhơn ở tại tổ dân phố P, thị trấn C, huyện Nghĩa Hành (chủ tiệm vàng là Bùi Thị L) sợi dây chuyền vàng giả 05 (năm) chỉ, có in ký hiệu “MD”, với số tiền chiếm đoạt là: 17.300.000 đồng (mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 13: Ngày 04/4/2019, Nguyễn Hữu N điều khiển xe mô tô 74F1-358.xx chở Lý Thị Kim Ng và con trai của Lý Thị Kim Ng là Phan Kim D, sinh năm 2015 đi bán dây chuyền vàng giả ở địa bàn xã B, huyện Bình Sơn. Nguyễn Hữu N bán cho tiệm vàng Kim L (chủ tiệm vàng là Võ Thị M) sợi dây chuyền vàng giả là 05 (năm) chỉ, khối lượng chiếc nhẫn vàng thật là 02 (hai) chỉ, trên sợi dây chuyền có in ký hiệu “MD” với số tiền 24.360.000 đồng (Hai mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ngày 05/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hữu N tại thôn D, xã B, huyện Bình Sơn, qua đó đã tạm giữ:

+ 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong chiếc nhẫn có dập chữ và số “KL610 PH”;

+ 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài 56 cm, tại vị trí móc nối một đầu có dập chữ và số “KH”, một đầu có dập chữ và số “KHS, 086”;

+ 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài 47,5cm, tại vị trí móc nối một đầu có dập chữ “KL”, một đầu có dập chữ và số “TU, 3”;

+ Kim loại màu vàng bọc xung quanh 01 (một) mặt dây chuyền hình phật, màu nâu;

+ 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài 47,3 cm, tại vị trí móc nối một đầu có dập chữ và số “TRU 50”;

+ 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài 48,5cm, tại vị trí móc nối, một đầu có dập chữ và số “TH 999”;

+ 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài 56 cm, tại vị trí móc nối một đầu có dập chữ và số “MD980 CH”;

+ 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài 55cm, tại vị trí móc nối một đầu có dập chữ “MD”;

+ Số tiền: 24.237.500 đồng (hai mươi bốn triệu hai trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Bị cáo công nhận bản kết luận giám định số 503/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019; Bản kết luận giám định số 503/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019; Bản kết luận giám định số 503/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019; Bản kết luận giám định số 365/C09C(Đ4) ngày 07 tháng 5 năm 2019, bản kết luận giám định bổ sung số 664/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 7 năm 2019; Bản kết luận giám định số 503/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019; Bản kết luận giám định số 503/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019; bản kết luận giám định số 365/C09C(Đ4) ngày 07 tháng 5 năm 2019, bản kết luận giám định bổ sung số 664/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 7 năm 2019; Bản kết luận giám định số 503/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019; bản kết luận giám định số 501/C09C(Đ4) ngày 17 tháng 6 năm 2019; Bản kết luận giám định số 500/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019; Bản kết luận giám định số 499/C09C(Đ4) ngày 17 tháng 6 năm 2019; Bản kết luận giám định số 502/C09C(Đ4) ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng kết luận về vàng giả mà bị cáo bán cho bị hại và vàng thật đã thu giữ tại nhà của cha, mẹ bị cáo. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 356.035.000đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2020/HS-ST ngày 19/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, m khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu N 09 (chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2019 đến ngày 30/8/2019.

Ngoài ra, còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 01/10/2020, bị cáo Nguyễn Hữu N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thì thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét về nhân thân và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo 09 (chín) năm tù là không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N , giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu N: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hữu N khai nhận vào khoảng thời gian tháng 3 và tháng 4 năm 2019, bị cáo Nguyễn Hữu N dùng thủ đoạn gian dối để bán vàng giả cho các chủ tiệm vàng nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của các chủ tiệm vàng, bị cáo đã thực hiện 13 vụ, chiếm đoạt tổng số tiền là: 356.035.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét về nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2020/HS-ST ngày 19/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, m khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu N 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2021, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2019 đến ngày 30/8/2019.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND, TAND huyện Bình Sơn;

- Công an huyện Bình Sơn;

- THA dân sự huyện Bình Sơn;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Văn Năm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Hùng

Trần Thị Bé

Nguyễn Văn Năm

Cỡ chữ