- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tống Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Tống Văn D, cải sửa bản án hình sự sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 22/12/2020 của Tòa án nhân dân thị xã O, tỉnh Hưng Yên.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-PT Ngày 29/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Công Lợi
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Phượng và ông Vũ Thành Long
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 29/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2021/TLPT-HS ngày 26/01/2021 đối với bị cáo Tống Văn D, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 22/12/2020 của Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Bị cáo có kháng cáo: Tống Văn D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Tống Văn C và bà Phạm Thị M; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên, (có mặt).
Bị hại: Chị Hán Thị Phương T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn 8, xã K, huyện L, tỉnh Yên Bái, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tống Văn D, sinh năm 1996, HKTT: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Kon Tum thuê trọ tại tổ dân phố N, phường M, thị xã O, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 02 giờ ngày 23/9/2020, D ngồi ở cửa phòng của D hút thuốc lá, thấy mọi người trong khu nhà trọ đã ngủ, trong sân dựng nhiều xe mô tô. D quan sát phát hiện thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, sơn màu vàng nâu, biển số đăng ký: 21B1-943.43 của chị Hán Thị Phương T, sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú: Thôn 8, xã K, huyện L, tỉnh Yên Bái không khóa cổ, khóa càng nên D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên mang bán lấy tiền tiêu sài. D lấy chìa khóa cổng khu nhà trọ treo ở trước cửa phòng trọ số 01 gần với cổng ra vào rồi dùng chìa khóa trên để mở cổng. Sau khi mở được cổng nhà trọ, D treo chìa khóa vào vị trí cũ rồi quay về phòng trọ của D thu dọn hết đồ cá nhân cho vào va li mang ra để trên yên xe mô tô, biển số đăng ký: 21B1-943.43, sau đó D dắt xe mô tô nói trên mang đi tiêu thụ. Khi D đang dắt xe mô tô lấy trộm của chị T đi đến khu vực thôn Ngọc, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên thì bị Công an xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm kiểm tra, phát hiện thu giữ vật chứng là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, sơn màu vàng nâu, biển số đăng ký 21B1-943.43.
Kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐ ngày 23/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã O kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, sơn màu nâu vàng, biển số đăng ký: 21B1-943.43 có giá trị là: 34.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã O đã trả chiếc xe mô tô trên cho chị Hán Thị Phương T, chị T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 22/12/2020, Tòa án nhân dân thị xã O đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Tống Văn D 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020, bị cáo Tống Văn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Tống Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật. Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo có đơn trình bầy hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, đơn được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên hình phạt tù giam, giảm hình phạt cho bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Bị cáo Tống Văn D kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.
. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 23/9/2020, tại khu vực nhà trọ thuộc tổ dân phố N, phường M, thị xã O, lợi dụng đêm khuya mọi người ngủ say, Tống Văn D đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, sơn loại vàng nâu, biển số đăng ký: 21B1-943.43 của chị Hán Thị Phương T có giá trị 34.500.000 đồng. Bởi hành vi trên, nên Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Tống Văn D về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo Tống Văn D, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân trong việc bảo vệ tài sản của mình. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo tại địa phương đơn được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị đây là những tình tiết giảm nhẹ mới. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Tài sản bị cáo trộm cắp là 34.500.000đ, đối tượng nhằm vào người dân lao động lại ở khu tập thể gây nhiều mối nghi ngờ và mất trật tự trị an tại địa phương, cấp sơ thẩm phạt tù giam bị cáo là cần thiết. Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tài sản đã thu hồi trả người bị hại, hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn, tại phiên tòa sơ và phúc thẩm bị cáo thực sự ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên giảm mức hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Do kháng cáo cuả bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Tống Văn D, cải sửa bản án hình sự sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 22/12/2020 của Tòa án nhân dân thị xã O, tỉnh Hưng Yên.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tống Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.
Tuyên phạt bị cáo Tống Văn D 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/9/2020.
2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên; - TAND,VKSND, CA thị xã O; - Chi cục THADS thị xã O; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Công Lợi |