- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu ly hôn Nguyễn Hải Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HNGĐ-ST Ngày: 01/4/2021 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân Hoàng
Bà Phan Thị Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 266/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày: 12/02/1972; Nơi cư trú: Thôn P, xã CT, huyện L, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hải Đ, sinh ngày: 05/9/1964; Nơi cư trú: Thôn A, xã B, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 27/8/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Nguyễn Hải Đ tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, chung sống và được Ủy ban nhân dân xã B, thị xã R (nay là thành phố R) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 03 ngày 10/9/2004. Vợ chồng hạnh phúc một thời gian sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do từ khi vợ chồng kết hôn mỗi người sống một nơi nên ông Đ không có trách nhiệm với vợ con; vợ chồng thường cãi nhau và đã không còn liên hệ với nhau hơn ba năm nay. Hiện nay vợ chồng đã không còn tình cảm, không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Vì vậy, bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
- Về con chung: Bà và ông Đ có 02 con chung Nguyễn Hải E, sinh ngày: 30/3/2005 và Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày: 25/10/2006. Bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà và ông Đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ: Bà và ông Đ không nợ.
* Bị đơn ông Nguyễn Hải Đ có mặt tại địa phương, đã được Tòa án tiến hành đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng dân sự nhưng ông Đ cố tình vắng mặt, không đến Tòa để cung cấp lời khai cũng như tham gia vào các phiên hòa giải, xét xử.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà T. Về quan hệ hôn nhân: Bà T được ly hôn ông Đ; về con chung: Giao hai con chung cho bà T nuôi dưỡng, ông Đ không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm “Ly hôn”.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 10/9/2004 (bản chính); Giấy khai sinh Nguyễn Ngọc Khánh N, Nguyễn Hải E (bản sao); Sổ hộ khẩu chủ hộ Nguyễn Thị Ngọc T (bản phô tô); Giấy chứng minh nhân dân bà T (bản phô tô); Biên bản xác minh ngày 02/12/2020.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình mà bị đơn có nơi cư trú tại thành phố R nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Ngọc T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ. Căn cứ vào nội dung vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Ngày 02/11/2020, nguyên đơn bà T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu của bà T là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T.
Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn ông Đ nhưng ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Đ tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân xã B, thị xã R (nay là thành phố R) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 03 ngày 10/9/2004 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng không chung sống với nhau mà mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm chăm sóc cho ai; vợ chồng không còn liên lạc với nhau một thời gian dài; hiện nay bà T không còn tình cảm với ông Đ do đó, bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đ đến Tòa để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải, xét xử nhưng ông Đ không chấp hành, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc cuộc sống hôn nhân của ông bà. Tại Biên bản xác minh ngày 02/12/2020, chính quyền địa phương cung cấp: “Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1972 và ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1964 có chung sống và đăng ký kết hôn tại thôn A, xã B, thành phố R, Khánh Hòa. Tuy nhiên, nguyên nhân mâu thuẫn của họ là gì thì chính quyền địa phương không biết do bà T và ông Đ không thông báo và không hòa giải tại địa phương.” Xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng ông Đ, bà T đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 con chung Nguyễn Hải E, sinh ngày: 30/3/2005 và Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày: 25/10/2006. Bà yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn là nhằm phát triển tốt cho con cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Hai cháu E, N có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ và hiện nay các cháu đang sống cùng với mẹ. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, cần tiếp tục giao hai con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn ông Nguyễn Hải Đ.
2. Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Ngọc T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung Nguyễn Hải E, sinh ngày: 31/01/2009 và Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 05/02/2018.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
* Vì lợi ích của con, hai bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0000899 ngày 26/10/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R. Bà T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND t.p R; - CCTHADS t.p R; - UBND xã B, t.p R, tỉnh Khánh Hòa; - Các đương sự; - Lưu án văn. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |