vanban.org

Bản án 25/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị B về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Phạm Thị B ly hôn với anh Nguyễn Hà Nam L. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hà Minh K, sinh ngày 05/12/2018 cho chị Phạm Thị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ông Nguyễn Hà Nam L không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị B - Nguyễn Hà Nam L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị B về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Tuyên xử; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tuyên xử; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tuyên xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 17-6-2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Khoa

Bà Hoàng Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 62/2021/TLST-HNGĐ ngày 17/3/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Phạm Thị B, sinh năm 1986.

Địa chỉ: đường L, phường B, Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

*Bị đơn: Anh Nguyễn Hà Nam L, sinh năm 1981

Địa chỉ: đường C, Khu phố 6, phường L , thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của chị Phạm Thị B tại Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa:

Chị B và anh Nguyễn Hà Nam L sau một thời gian tìm hiểu đã chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2017 tại Ủy ban nhân dân phường Long Toàn, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo giấy chứng nhận số 35/2017. Thời gian đầu chung sống vợ chồng anh chị hạnh phúc. Từ tháng 5/2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì anh L thường xuyên đi xa nhà, không quan tâm đến hai mẹ con chị B và cháu K. Hiện tại gia đình anh L đang sinh sống tại thành phố Bà Rịa nhưng anh L lại muốn về quê Hà Tĩnh sinh sống mà chị B không muốn về Hà Tĩnh sinh sống vì nếu về Hà Tĩnh thì chị B sẽ không có việc làm. Từ tháng 5/2019 chị B và anh L sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng anh chị không quan tâm đến nhau và không còn tình cảm với nhau. Nay chị B khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hà Nam L.

Về con chung: Chị B và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Hà Minh K, sinh ngày 05/12/2018, chị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu tòa án giải quyết.

Lời khai của bị đơn ông Nguyễn Hà Minh K ngày 26/4/2021 tại Trụ sở UBND thị trấn Thạch Hà, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh:

Thống nhất với chị B về thời gian kết hôn, thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu tháng 5/2019 do vợ chồng không tâm đầu ý hợp, tính cách vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống dẫn đến bất hòa và vợ chồng anh L, chị B đã sống ly thân từ tháng 5/2019 đến nay. Nay chị B yêu cầu ly hôn với anh L thì anh L đồng ý.

Về con chung: Chị B và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Hà Minh K, sinh ngày 05/12/2018, anh L đồng ý giao cháu K cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và anh L không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án và tiến hành các bước tố tụng đúng quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên c u các ch ng c và tài liệu có trong h sơ vụ án đã đ c thẩm tra tại phiên tòa, qua kết qu tranh lu n tại phiên tòa, Hội đ ng x t x sơ thẩm nh n định:

Về tố tụng:

Chị Phạm Thị B khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Hà Nam L, anh L có hộ khẩu thường trú tại đường C, Khu phố 6, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

Nguyên đơn là chị B và bị đơn là anh L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt chị B và anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị B, thấy rằng: chị Phạm Thị B và anh Nguyễn Hà Nam L có đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2017 tại tại Ủy ban nhân dân phường Long Toàn, thành phố Bà Ria, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Theo lời khai của chị B và anh L thì vợ chồng anh chị đã có mâu thuẫn từ tháng 5/2019 nguyên nhân chính do vợ chồng không tâm đầu ý hợp, tính cách vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống dẫn đến bất hòa. Anh L lại muốn về quê Hà Tĩnh sinh sống mà chị B không muốn về Hà Tĩnh sinh sống vì nếu về Hà Tĩnh thì chị B sẽ không có việc làm. Chị B và anh L đã sống ly thân từ tháng 5/2019 đến nay và trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau. Vì vậy, chị B yêu cầu giải quyết ly hôn với anh L và anh L cũng đã đồng ý ly hôn với chị B nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị B đối với anh L.

Về con chung: Chị B và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Hà Minh K, sinh ngày 05/12/2018, chị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L đã đồng ý giao cháu K cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và cũng đồng ý không cấp dưỡng nuôi con. Do đó yêu cầu của chị B là có cơ sở được chấp nhận. Cần giao cháu K cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị B và anh L không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị B phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân gia đình, Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị B về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Phạm Thị B ly hôn với anh Nguyễn Hà Nam L.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hà Minh K, sinh ngày 05/12/2018 cho chị Phạm Thị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ông Nguyễn Hà Nam L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: chị Phạm Thị B phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số TU/2020/0003269 ngày 09/3/2021 tại Chi cục thi hành án thành phố Bà Rịa.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/6/2021), các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ