vanban.org

Bản án 25/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức Đ cho anh Đ được ly hôn chị Lưu Thị Th.

Về con: Giao cháu Nguyễn Đức L, sinh ngày 01/7/2019 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lưu Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Anh Nguyễn Đức Đ phải chịu án phí DSST về việc ly hôn l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Đức Đ- Lưu Thị T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức Đ cho anh Đ được ly hôn chị Lưu Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 03-6-2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thắm

2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa:

Bà: Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2021/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/20201/QĐXX-ST, ngày 22 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức Đ - Sinh năm: 1985

Địa chỉ: Thôn Mật Kỳ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Lưu Thị Th - Sinh năm: 2001

Địa chỉ: Thôn Thượng xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 08/02/2021 và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Đức Đ trình bày: anh và chị Thg kết hôn với nhau vào ngày 16/9/2019, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã T cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân trong cuộc sống tính cách vợ chồng không hòa hợp, quan điểm sống trái ngược nhau, dẫn đến cuộc sống chung vợ chồng xung đột, bất hòa. Từ tháng 7/2020, anh và chị Th sống ly thân nhau, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh đề nghị Tòa giải quyết ly hôn chị Th theo quy định; Về con: vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức L, sinh ngày 01/7/2019. Sau khi ly thân, anh và con ở tại xã T, còn chị Th bỏ về nhà bố mẹ ở xã Nga Thắng. Hiện tại cháu L đang ở cùng anh. Sau ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi cháu, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung.Về tài sản: vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu.

Đối với bị đơn chị Lưu Thị Th, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Nhưng chị Th cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chị Th vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Mặc dù chị Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Đ vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn chị Th; về con anh đề nghị được nuôi cháu L, không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản anh không yêu cầu giải quyết. Đối với bị đơn chị Th, được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Th.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức Đ. Cho anh Đ được ly hôn chị Lưu Thị Th. Về con: giao cháu Nguyễn Đức L, sinh ngày 01/7/2019 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: anh Đ phải chịu án phí DSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Về nội dung:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Đức Đ và chị Lưu Thị Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.Theo nguyên đơn trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng quan điểm sống bất đồng, xảy ra nhiều xung đột, không tìm được tiếng nói chung. Từ tháng 7 năm 2020 đến nay, anh Đ và chị Th sống ly thân, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không thể duy trì, anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị Th theo quy định. Xét cuộc sống chung của anh Đ và chị Th đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể duy trì nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh Đ, cho anh Đ ly hôn chị Th là phù hợp quy định của pháp luật.

Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức L, sinh ngày 01/7/2019. Hiện tại cháu đang ở cùng anh. Sau ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi cháu, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét đề nghị của anh Đ được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung là chính đáng. Qua xác minh tại xã Nga Thắng và xã T thì hiện tại cháu L đang ở cùng anh Đ ổn định. Mặc dù cháu L còn nhỏ, nhưng trong thời gian ly thân, chị Th để con cho anh Đ nuôi, không quan tâm, chăm sóc gì đến cháu. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cũng như sự chăm sóc cháu về mọi mặt và ổn định cuộc sống, nên giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu L là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Đ không yêu cầu.

Về tài sản: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Đức Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức Đ cho anh Đ được ly hôn chị Lưu Thị Th.

2. Về con: Giao cháu Nguyễn Đức L, sinh ngày 01/7/2019 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lưu Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Đức Đ phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0010974 ngày 08/02/2021 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, anh Đ đã nộp đủ án phí DSST.

4. Quyền kháng cáo: Anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ