- Tranh chấp gì? án dân sự — "Đoàn Quốc T - K' L + Ka D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Đoàn Quốc T về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/DS-ST Ngày: 12-5-2021 V/v Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D , TỈNH LÂM ĐỒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông K’ My Na
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hoa
2. Bà Lê Thị Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Thu Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D , tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D , tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Cường- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D , tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST- DS ngày 26 tháng 3 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/QĐST- DS ngày 15-4-2021 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Ông Đoàn Quốc T , sinh năm 1982 Địa chỉ: Đường Nguyễn Trung Tr, cụm 5, tổ 17, thị trấn D , huyện D , tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện theo ủy quyền bà Võ Minh H , sinh năm 1984 Địa chỉ: Đường Nguyễn Trung Tr, cụm 5, tổ 17, thị trấn D , huyện D , tỉnh Lâm Đồng. ( Văn bản ủy quyền ngày 04-12-2020)
+ Bị đơn: Vợ chồng ông K’ L , bà Ka D Địa chỉ: Số 68 thôn Hàng Piơr, xã Bảo Thuận, huyện D , tỉnh Lâm Đồng. Ông T có mặt, bà H đại diện theo ủy quyền nguyên đơn và bị đơn vợ chồng ông L , bà D vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn Ông T trình bày:
Ông là chủ cửa hàng vật tư nông nghiệp Hiếu H - Lộc T có ký hợp đồng mua bán phân bón vô cơ và hữu cơ với bà Ka D từ ngày 17-7-2018 đến ngày 18-8-2018 quy ra thành tiền và còn nợ lại 170.620.000đ và thỏa thuận cho bà Ka D trả dần số tiền trên, hạn cuối trả là ngày 30-7-2019, nếu không trả sẽ chịu lãi 1,5%/ tháng. Tuy nhiên đến hạn trả bà Ka D không trả.
Nay ông khởi kiện và xác định số nợ trên là nợ chung của vợ chồng bà Ka D , yêu cầu vợ chồng bà Ka D, ông K’ L cùng có trách nhiệm trả số tiền gốc 170.620.000đ và tiền lãi tính từ ngày 01-8-2019 đến ngày 01-5-2021 là 20 tháng với mức lãi suất 1,5 % / tháng thành tiền 51.186.000đ.
Tài liệu chứng cứ chứng minh: Giấy ghi việc mua bán phân và số tiền nợ, biên bản xác nhận công nợ không ghi ngày tháng năm, giấy xác nhận nợ ngày 02-6-2019, giấy cam kết trả nợ ghi ngày 02-6-2019.
+ Bị đơn vợ chồng ông L , bà D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D , tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Phía bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông L , bà D cùng có trách nhiệm trả cho Ông Đoàn Quốc T số tiền gốc 170.620.000đ và tiền lãi 51.186.000đ.
Hoàn trả tiền án phí cho ông Tiến. Buộc vợ chồng ông L , bà D phải chịu án phí theo quy đinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà H đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, bị đơn vợ chồng ông L , bà D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Tiến, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ Giấy ghi việc mua bán phân và số tiền nợ, biên bản xác nhận công nợ không ghi ngày tháng năm, giấy xác nhận nợ ngày 02-6-2019 và giấy cam kết trả nợ ghi ngày 02-6-2019 do nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn giao nộp cho Tòa án, nội dung thể hiện bà Dợu có mua phân bón của đại lý Hiếu H - Lộc T do Ông Đoàn Quốc T làm chủ và còn nợ số tiền 170.620.000đ. Ngày 02 tháng 6 năm 2019 hai bên có làm giấy xác nhận nợ và giấy cam kết trả nợ. Thời hạn thanh toán số tiền trên trước ngày 30-7-2019 tuy nhiên từ đó đến nay bà Dợu không chịu trả số tiền trên mặc dù Ông T đã đến yêu cầu trả nhiều lần.
Nay Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết và xác định nợ trên là nợ chung của vợ chồng buộc vợ chồng bà Dợu , ông Linh có trách nhiệm trả số tiền gốc 170.620.000đ và tiền lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng tuy trong việc mua bán phân bón và giấy xác nhận nợ và cam kết trả nợ do bà Dợu ký xác nhận nhưng việc bà Dợu mua phân bón dùng chung trong gia đình nên có đủ cơ sở khẳng định việc bà Dợu mua phân bón của đại lý Hiếu H - Lộc T và còn nợ số tiền 170.620.000đ là nợ chung của vợ chồng nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Từ những phân tích trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông T buộc vợ chồng bà D , ông L có nghĩa vụ thanh toán trả số tiền còn nợ gốc 170.620.000đ là phù hợp.
Về lãi suất: Căn cứ giấy xác nhận nợ và giấy cam kết trả nợ các bên có thỏa thuận lãi suất chậm trả 1,5%/ tháng. Nay Ông T yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 1,5 %/ tháng là phù hợp theo quy định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu tính lãi là có căn cứ.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc vợ chồng ông L , bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 430, Điều 434, Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Đoàn Quốc T về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản”.
Buộc vợ chồng ông K’ L , bà Ka D có trách nhiệm thanh toán trả cho Ông Đoàn Quốc T số tiền 221.806.000đ. Trong đó tiền gốc 170.620.000đ và tiền lãi 51.186.000đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
2.Về án phí: Vợ chồng ông K’ L , bà Ka D phải chịu 11.090.000đ án phí DSST.
Hoàn trả cho Ông Đoàn Quốc T số tiền 5.751.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001599 ngày 20-10-2020 của Chi cục hành án dân sự huyện D .
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND huyện D ; - Chi cục THADS huyện D ; - Đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; - Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA K’ My Na |