vanban.org

Bản án 25/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 25/08/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/08/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 37 Luật tổ chức TAND; khoản 2, khoản 4 Điều 131, Điều 133, Điều 136, Điều 139, khoản 1 Điều 693, Điều 707, Điều 708 Bộ luật Dân sự năm 1995; điểm a khoản 1 Điều 106, khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai…

Sửa án sơ thẩm như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15/3/2005 giữa ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Thế H1 (Nguyễn Văn H1) vô hiệu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 37 Luật tổ chức TAND; khoản 2, khoản 4 Điều 131, Điều 133, Điều 136, Điều 139, khoản 1 Điều 693, Điều 707, Điều 708 Bộ luật Dân sự năm 1995; điểm a khoản 1 Điều 106, khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai…
  • Căn cứ chính? Điều 131 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 106 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/DS-PT
Ngày: 25/8/2021
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử du ̣ng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quảng Lực

Các Thẩm phán: Ông Trần Đứ c Long và ông Võ Bá Lưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Thuý – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Lê Thi ̣ Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 25/8/2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2021/TLPT- DS ngày 22/6/2021 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất

, do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS – ST ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Toà án nhân dân thi ̣ xa Ba Đỗ

̀n bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1515/2021/QĐ-PT ngày 09/8/2021, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T 1 và bà Nguyễn Thị T 2; địa chỉ thườ ng trú cùng trú tại: Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; ông T1 vắng mă ̣t, uỷ quyền cho bà T2 tham gia tố tu ̣ng ta ̣i phiên toà phúc thẩm, bà T2 có mặt;

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Thế H 1 (Nguyễn Văn H 1); địa chỉ thường trú: Tổ dân phố 4, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Vũ Xuân H2, Luâ ̣t sư thuô ̣c Văn phòng Luâ ̣t sư Đ ; đi ̣a chỉ thườ ng trú : 85 T, phườ ng B, thành phố Đ , tỉnh Quảng Bình; có mặt;

3.Ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣̃

liên quan:

+Ông Nguyễn Văn H 3 và bà Lê Thị N 1; cùng có đi ̣a chỉ thườ ng trú ta ̣i Tổ dân phố 4, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; bà N1 uỷ quyền cho ông H3 tham gia tố tụng theo Giấy uỷ quyền ngày 10/3/2020; tại phiên toà phúc ông Nguyễn Văn H3 có mă ̣t; bà N1 vắng mă ̣t;

+Bà Nguyễn Thị Hoa H4; đi ̣a chi thườ ng trú : tổ dân phố 4, phườ ng Q, thị xã B,

̉

tỉnh Quảng Bình; bà H4 uỷ quyền cho ông H1 tham gia tố tu ̣ng theo G iấy uỷ qu yền ngày 10/3/2020; bà H4 vắng mă ̣t ta ̣i phiên toà phúc thẩm;

+Chị Nguyễn Thị Thu H 5, chị Nguyễn Thị N1; cùng có đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; chị H5, chị N1 uỷ quyền tham gia tố tụng cho bà T2 theo các Văn bản uỷ quyền ngày 29/3/2018; hai chi ̣ vắng mă ̣t ta ̣i phiên toà phúc thẩm;

+Ông Nguyễn Đinh T3 và bà Nguyễn Thị C 1, cùng đi ̣a chỉ thườ ng trú Tổ dân

̀ phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; bà C1 uỷ quyền cho ông T 3 tham gia tố tụng theo Giấy uỷ quyền ng ày 10/5/2020; tại phiên toà phúc thẩm ông T3 có mă ̣t; bà C1 vắng mă ̣t;

+Uỷ ban nhân dân thị xã B , tỉnh Quảng Bình (có giấy đề nghị Toà án xét xử vắng mặt);

+Uỷ ban nhân dân phường Q , thị xã B, tỉnh Quảng Bình (có giấy đề nghị Toà án xét xử vắng mặt);

4.Ngườ i làm chứ ng:

+Ông Nguyễn Văn B 1; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố Cầu, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; có mặt;

+Ông Nguyễn Minh T4; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

+Ông Nguyễn Văn T 5; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

+Ông Nguyễn Hữu R 1; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

+Ông Pha ̣m Minh T 6; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 4, phườ ng Q, thị xã B , tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

+Ông Trần Xuân H 6; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 4, phườ ng Q, thị xã B , tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

+Ông Nguyễn Xuân C2; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

+Ông Nguyễn Văn T 7; đi ̣a chỉ thườ ng trú : Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2017 và quá trình tham gia tố tụng , nguyên đơn là vợ cH1 ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Năm 2003, Ông Bà được UBND xã Q , huyê ̣n Q , tỉnh Quảng Bình giao một thử a đấ t nuôi trồng thuỷ sản ta ̣i T hôn 5, xã Q, huyê ̣n Q. Sau khi được giao đất , Ông Bà không sử dụn g mà cho ông Nguyễn Thế H 1 mượn nuôi trồng thuỷ sản ; viê ̣c cho mượn không lâ ̣p văn bản và hai bên cam kết miê ̣ng thờ i ha ̣n cho mượn đến năm 2014. Năm 2005, ông H1 đưa cho ông T1 mô ̣t tờ giấy viết sẵn nội dung, đề nghị ông T1 viết lại trên tờ giấy khác với tiêu đề giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm. Vì tin tưởng ông H1 nên ông T1 sao chép la ̣i nội dung tờ giấy mà ông H 1 đa viết sẵn, ký tên, rỗ

̀i giao cho ông H1. Sau đó ông H1 tự đi xin xác nhâ ̣n của C hính quyền thôn và U ỷ ban nhân dân xã Q.

Ngày 25/7/2005, Ông Bà được Uỷ ban nhân dân huyê ̣n Q, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số AC 980874 công nhâ ̣n quyền sử du ̣ng thử a đất số 911, tờ bản đồ số 5, diê ̣n tich 2.315 m2, loại đất nuôi trồng thuỷ sản , thờ i ha ̣n sử

́ dụng đến tháng 12/2014. Sau khi hết thờ i ha ̣n cho mượn đất, Ông Bà yêu cầu ông H1 trả lại đất , nhưng ông H1 không trả , nên Ông Bà khở i kiê ̣n yêu cầu Toà án tuyên bố Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm vô hiê ̣u , buô ̣c ông H1 trả đất và số tiền nộp sản phẩm 408.000 đồng mà Ông Bà đa nô ̣̃ p thay ông H 1 trong thờ i gian ông H1 sử du ̣ng thử a đất từ năm 2015 đến năm 2019.

Bị đơn là ông Nguyễn Thế H1 (Nguyễn Văn H1) trình bày:

Đầu năm 2005, biết tin vợ cH 1 ông T1, bà T2 muốn chuyển nhượng th ửa đất nuôi tôm, nên ông H1 và em trai ông H1 là ông Nguyễn Văn H3 gă ̣p ông T1, bà T2 để hỏi nhận chuyển nhượng. Trướ c thờ i điểm hai anh em ông H1 đến hỏi để nhận chuyển nhượng đa cõ ́ nhiều ngườ i liên hê ̣ nhâ ̣n chuyển nhượng thử a đất vớ i ông T1, bà T2, nhưng vi không thoả thu ận được giá cả nên việc chuyển nhượng không thực hiện

̀ được. Khi hai bên gă ̣p nhau , hai Ông trả giá 10.000.000 đồng và được ông T1, bà T2 đồng ý , nên ngày 15/3/2005 ông T1 viết và ký G iấy chuyển đổi hồ nuôi tôm , Giấy được Trưở ng thôn 5 và Uỷ ban nhân dân xã Q xác nhận, hai anh em Ông đa trã ̉ tiền cho ông T1, bà T2.

Từ ngày 16/3/2005 đến nay, hai anh em Ông nuôi trồng thuỷ sản trên thử a đất này, có nộp nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước bằng cách giao tiền cho ông T1, bà T2 nô ̣p thay. Năm 2007 khi biết ông T1, bà T2 được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất thi hai Ông đa yêu cẫ

̀u ông T1, bà T2 bàn giao lại và hai Ông đã quản lý giấy

̀ chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đến nay . Do đó , nay ông T1, bà T2 yêu cầu Toà án tuyên bố giấy chứ ng nhâ ̣n chuyển đổi hồ nuôi tôm ngày 15/3/2005 vô hiê ̣u thi hai Ông

̀ không đồng ý, đề nghị Toà án công nhận hai Ông có quyền sử dụng thửa đất.

Ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣ liên quan lã

̀ ông Nguyễn Văn H 3 có ý kiến trình bày, nô ̣i dung thống nhất như trinh bày của ông Nguyễn Thế H1.

̀

Ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣̃

liên quan ông Nguy ễn Đình T 3 là em rể của ông Nguyễn Văn T1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 30/3/2021, Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn đa quyết đi ̣̃

nh:

Áp dụng khoản 1 Điều 35, các điểm a , c khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 200, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng D ân sự năm 2015; khoản 4 Điều 131, Điều 136, Điều 137, Điều 146, Điều 139, khoản 1 Điều 693, Điều 707, Điều 708 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 1995; điểm a khoản 1 Điều 106, điểm a khoản 1 Điều 127 Luâ ̣t Đất đai năm 2003; khoản 1, khoản 4, khoản 5 Điều 26 và điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phi, lê ̣ phi Toà án, xử :

́

́

Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i ki ện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn

T1 và bà Nguyễn Thi ̣ T2, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất lâ ̣p ngày 15/3/2005 giữa ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Thế H1 vô hiê ̣u . Buô ̣c ông Nguyễn Thế H1 (Nguyễn Văn H1) trả lại thử a đất số 911, diê ̣n tich 2.315 m2, tờ bản

́ đồ số 5, Thôn 5, xã Q, huyê ̣n Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Tổ dân phố 5, phườ ng Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình) và Giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số AC 980874 ngày 25/7/2005 cho hô ̣ gia đinh ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2.

̀

Buô ̣c ông Nguyễn Thế H1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 số tiền 408.000 đồng, là tiền nộp sản phẩm từ năm 2015 đến năm 2019.

Không chấp nhâ ̣n yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thế H1.

Bản án sơ thẩm còn quyết định vấn đề án phí , tiền ta ̣m ứ ng án phi ; tuyên viê ̣c

́ chịu lãi đối với khoản tiền chậm thi hành án , quyền thoả thuâ ̣n thi hành án, tự nguyê ̣n thi hành án , yêu cầu thi hà nh án, viê ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án , vấn đề thờ i hiê ̣u thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13/4/2021, bị đơn ông Nguyễn Thế H1 kháng cáo yêu cầu Toà án xét x ử phúc thẩm sửa B ản án sơ thẩm , theo đó bá c yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn hoă ̣c huỷ Bản án sơ thẩm nếu thấy Toà án xét xử sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tu ̣ng mà Toà án xét xử phúc thẩm không thể khắc phục được.

Lý do của yêu cầu trên đó là:

Thứ nhất, về nô ̣i dung, nhâ ̣n đi ̣nh của Toà án nhân dân thi ̣ xa Ba Đỗ

̀n không bảo đảm khách quan, thiên vi ̣, có lợi ích phía nguyên đơn, nên viê ̣c áp du ̣ng pháp luâ ̣t không đúng bản chất của tranh chấp, xâm pha ̣m quyền và lợi ich hợp pháp của bi ̣ đơn

́ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

Thứ hai về tố tu ̣ng , TAND thi ̣ xa Ba Đỗ

̀n đa vi pha ̣̃

m nghiêm tro ̣ng thủ tu ̣c tố tụng, cụ thể đó là:

-Vi pha ̣m thờ i ha ̣n xét xử vu ̣ án;

-Đa thu ̣̃

lý phản tố , nhưng trong quá trình thụ lý , giải quyết hoàn toàn không xem xét yêu cầu phản tố của phia bi ̣ đơn;

́

-Không xem xét đơn yêu cầu cần áp du ̣ng thờ i hiê ̣u của phía bị đơn, khi nguyên đơn đa hết thỡ

̀ i hiê ̣u khở i kiê ̣n;

-Không triê ̣u tâ ̣p ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣̃

liên quan là UBND phường Q và UBND thị xã B vì có liên quan đến việc xác nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất và cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất dẫn đến tranh chấp giữa các bên;

-Thụ lý phản tố không đúng thẩm quyền.

Tại phiên toà phúc thẩm, Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, nô ̣i dung tóm tắt như sau:

-Thẩm phán, Hô ̣i đồng xét xử , Thư ký Toà án và những ngườ i tham gi a tố tu ̣ng đa tuân thũ

̉ các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự;

-Giao di ̣ch chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Thế H1 là vô hiệu, vì vi phạm các quy định của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 1995 và Luật Đất đai năm 2003, do đó án sơ thẩm xác đi ̣nh giao di ̣ch này vô hiê ̣u là có căn cứ . Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm xác định không có viê ̣c bi ̣ đơn giao cho nguyên đơn số tiền 10 triê ̣u đồng là không đúng;

-Về thời hiệu khởi kiệ n, đây là tranh chấp về quyền sử du ̣ng đất , nên không áp dụng thời hiệu;

-Viê ̣c án sơ thẩm không chấp nhâ ̣n yêu cầu phản tố của bi ̣ đơn là đúng pháp luâ ̣t;

-Về thờ i ha ̣n xét xử , Toà án sơ thẩm đã thực hiện đúng; lý do vụ án phải kéo dài về mă ̣t thờ i gian là do phiên toà phải hoan nhiều lẫ

̀n , nhưng những lần Toà án cấp sơ thẩm hoan phiên toã

̀ đều có căn cứ pháp luâ ̣t;

-Về viê ̣c triê ̣u tâ ̣p UBND phườ ng Q và UBND thi ̣ xa B tham gia tỗ

́ tu ̣ng, Toà án cấp phúc thẩm đa bỗ ̉ sung thiếu sót này của Toà án cấp sơ thẩm;

-Về giải quyết hâ ̣u quả Hợp đồng vô hiê ̣u đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử xác đi ̣nh lỗi của nguyên đơn và bị đơn mỗi bên

50% và căn cứ Nghị quyết 01/2003/HĐTP-TANDTC ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC để sửa án sơ thẩm và từ đó xác đi ̣nh la ̣i án phi.

́

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trong vu ̣ án này , bị đơn có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện , theo đó cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất được ký vào ngày 15/3/2005 giữa ông H1 và ông T1, khi ký có mă ̣t bà T2, vì vậy tính đến ngày 15/11/2017 là ngày ông T1, bà T2 có đơn khởi kiện , thờ i hiê ̣u khở i kiê ̣n đa hết , vì theo Đi ều 429̃ Bô ̣ luâ ̣t D ân sự năm 2015, thờ i hiê ̣u khở i kiê ̣n để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 3 năm, kể từ ngày ngườ i có quyền yêu cầu biết hoă ̣c phải biết quyền và lợi ich hợp pháp của minh bi ̣ xâm ha ̣i.

́

̀

Về yêu cầu này của B ị đơn, thấy rằng đây là vu ̣ án tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất , theo đó nguyên đơn cho rằng ho ̣ có quyền sử dụng đối với thửa đất tranh chấp . Như vâ ̣y đây là tranh chấp về qu yền sử du ̣ng đất theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t Đất đai , do đó theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 3 Điều 155 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015, tranh chấp này không áp du ̣ng thờ i hiê ̣u khở i kiê ̣n.

Sau khi vu ̣ án được thu ̣ lý la ̣i ở Toà án đa xẽ ́t xử sơ thẩm, bị đơn có yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 980 874 đa đượ̃

c cấp cho vợ chồng ông T1, bà T2, vì cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử du ̣ng đất của cơ quan có thẩm quyền cho ông T1, bà T2 như vâ ̣y là không đúng , xâm pha ̣m đến quyền và lợi ích hợp pháp của phia bi ̣ đơn. Do có yêu cầu về huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng

́ đất AC 980874, nên bi ̣ đơn cho rằng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vu ̣ án thuô ̣c TAND tỉnh Quảng Bình; viê ̣c TAND thi ̣ xa Ba Đỗ

̀n xét xử sơ thẩm vu ̣ án là trái pháp luật . Do đó ta ̣i đơn kháng cáo , bị đơn cho rằng Toà án xét xử sơ thẩm không xem xét đến vấn đề thẩm quyền xét xử là trái pháp luâ ̣t.

Về vấn đề này thấy rằng , quan điểm của Toà án đa xẽ ́t xử sơ thẩm cho

rằng viê ̣c giải quyết vu ̣ án không cần thiết phải xem xét đến viê ̣c huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất và thực tế Bản án sơ thẩm cũng không huỷ hoặc kiến nghị xem xét la ̣i viê ̣c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất AC

980874, cấp ngày 25/7/2005 cho vợ chồng ông T1, bà T2 để thu hồi, do đó viê ̣c TAND thi ̣ xa Ba Đỗ

̀n xét xử sơ thẩm vụ án này là đúng thẩm quyền.

Về viê ̣c ông Nguyễn Thế H1 và ông Nguyễn Văn T1 lâ ̣p văn bản tiêu đề Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm , theo ông T1, giấy này được ông T1 viết la ̣i từ mô ̣t tờ giấy viết sẵn nô ̣i dung do ông H1 đưa; sau đó ông H1 tự đi xin xác nhâ ̣n của C hính quyền thôn và UBND xa Quã

̉ng Phong. Ông T1 viết giấy này là vi tin tưở ng ông H1,

̀ thực chất giữa hai bên không có viê ̣c chuyển đổi hồ nuôi tôm như trong nô ̣i dung giấy thể hiê ̣n; chỉ có việc ông T1, bà T2 cho ông H1 mượn hồ mà thôi.

Về ý kiến này của ông T1, bà T2 thấy rằng ta ̣i Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm do ông T1 lâ ̣p ngày 15/3/2005, có ghi nội dung : “Năm 2003, tôi nhâ ̣n được h ồ nuôi tôm vớ i diê ̣n tich 2560 m2 thuô ̣c khu vực nuôi tôm T hôn 5. Nay gia đinh không đủ

́

̀ điều kiê ̣n để nuôi trồng , nên vợ chồng tôi đa bã ̀n ba ̣c và nhất tri chuyển đổi la ̣i hồ

́ nuôi tôm cho anh Nguyễn Thế H1, trú ở thôn 4, xã Quảng Phong. Anh Nguyễn Thế H1 tiếp nhâ ̣n, sử du ̣ng hồ nuôi tôm kể từ ngày 15/3/2005. Mọi khoản đóng góp liên quan đến hồ nuôi tôm kể từ ngày trên anh Nguyễn Thế H1 phải nộp. Anh H1 được sử dụng theo Nghị định 64/CP…” . Giấy được ông T1, ông H1 ký tên, có xác nhận của ông Nguyễn Xuân C2 – Trưở ng thôn 5 và ông Phạm Hùng S – Phó chủ tịch UBND xã Q. Ông T1 không giải thich mô ̣t cách thoả đáng được vi sao tin ông H1 mà lại

́

̀ phải viết giấy này , trong khi theo ông T1 thì nội dung trong giấy là không đúng s ự thâ ̣t. Mă ̣t khác viê ̣c vợ chồng ông T1, bà T2 rao bán hồ nuôi tôm được nhiều ngườ i làm chứng xác nhận , đó là các ông Nguyễn Minh T 4, Nguyễn Hữu R1, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Thế H7; ngoài ra nội dung Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm cũng phù hợ p vớ i viê ̣c ông H1 canh tác trên diê ̣n tich đất hồ tôm từ năm 2005 đến 2017, nhưng vợ

́

chồng ông T1, bà T2 không có ý kiến gi , phù hợp với việc ông H1 đang giữ giấy

̀

chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất AC 980874 mà UBND huyện Quảng Trạ ch cấp cho ông T1, bà T2, và phù hợp với việc năm 2017, chính quyền địa phương giải quyết bồi thườ ng sự cố môi trườ ng biển Formosa , ông H1 được nhâ ̣n số tiền 18.472.565 đồng. Do đó có đủ cơ sở để xác đi ̣nh nô ̣i dung của Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm thể hiê ̣n đúng ý chi của hai bên ; không có viê ̣c vợ c hồng ông T1, bà T2 cho ông H1

́ mượn thử a đất đang tranh chấp nói trên để nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2014, như ý kiến của ông T1, bà T2.

Về khoản tiền ông H1 giao cho ông T1 để được sử dụng hồ nuôi tôm, phía ông T1, bà T2 không thừ a nhâ ̣n có viê ̣c nhâ ̣n tiền từ ông H1 để chuyển giao quyền sử dụng hồ nuôi tôm cho ông H1, còn ông H1 và ông Hải (em ông H1) khẳng đi ̣nh ông H1 đa giao cho vợ̃

chồng ông T1, bà T2 10.000.000 đồng vào ngày 15/3/2005, là ngày mà hai bên viết giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm.

Về vấn đề này thấy rằng có căn cứ để xác đi ̣nh có viê ̣c ông H1 đa giao chõ ông T1 số tiề n 10.000.000 đồng để được sử du ̣ng hồ nuôi tôm theo nô ̣i dung G iấy chuyển đổi hồ nuôi mà hai bên đã ký kết . Cụ thể, như đa xã ́c đi ̣nh ở trên , ông H1 sử dụng hồ nuôi tôm từ ngày 15/3/2005 không phải từ viê ̣c được ông T1, bà T2 cho mượn hồ , mà việc sử dụng hồ nuôi tôm xuất phát từ Hợp đồng chuyển đổi hồ nuôi tôm mà hai bên đa kỹ ́ kết vào ngày 15/3/2005. Đây là loa ̣i hợp đồng có đền bù , nên khi ông H1 được nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất hồ , thì đồng thời p hải thực hiện nghĩa vụ giao tiền cho ông T1. Do đó tuy hai bên không làm giấy giao nhâ ̣n tiền , nhưng có đủ cơ sở xác đi ̣nh có viê ̣c giao nhâ ̣n tiền giữa hai bên . Về số tiền cu ̣ thể , căn cứ vào lờ i khai của ông H1, ông H3 (em ông H1) khẳng đi ̣nh số tiền chuyển nhượng là 10 triê ̣u đồng; các lời khai của các ông Nguyễn Hữu R 1, Nguyễn Văn B 1, Nguyễn Văn T 5, Nguyễn Thế H 7, Nguyễn Minh T 4, theo đó cũng đều khai nhận khi ông H1 hoàn thành việc chuyển nhượng thửa đất hồ nuôi tôm có nói la ̣i vớ i ho ̣ giá chuyển nhượng thử a đất là 10.000.000 đồng; trong đó ông N guyễn Thế H 7 và ông Nguyễn Văn B 1 còn khai thêm có cho ông H1 mượn tiền khi ông H1 đă ̣t vấn đề mượn tiền để mua hồ tôm của vợ chồng ông T1, bà T2; ông Nguyễn Minh T4 khai thêm viê ̣c bản thân có ý đi ̣nh mua hồ tôm củ a vợ chồng ông T1, bà T2, nhưng do ông T1, bà T2 ra giá 10 triê ̣u đồng, trong khi ông chi trả ̉ giá 8 triê ̣u đồng, vì vậy ông không mua được; nên có đủ cơ sở xác định số tiền ông H1 đa trã ̉ cho ông T1 để được nhận quyền sử dụng thử a đất nuôi trồng thuỷ sản hiện hai bên tranh chấp là 10 triê ̣u đồng.

Thử a đất số 911, tờ bản đồ số 5, diê ̣n tich 2.315 m2 tại xã Q, huyê ̣n Q (nay

́

là phường Q , thị xã B ) chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất , nhưng đa đượ̃

c UBND xa Q giao cho vợ̃

c hồng ông T1, bà T2. Viê ̣c giao đất này là nhằm thực hiê ̣n Nghi ̣ đi ̣nh 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về viê ̣c ban hành quy đi ̣nh về viê ̣c giao đất nông nghiê ̣p cho hô ̣ gia đinh , cá nhân sử

̀ dụng ổn định lâu dài cho mục đích sản xuất nông nghiệp , là cơ sở để s au đó UBND huyê ̣n Q cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông T1, bà T2. Do đó, tuy chưa được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất nhưng thực tế ông T1, bà T2 đa quã

̉n lý, sử du ̣ng thử a đất nuôi trồng thuỷ sản này.

Xét giao dịch chuyển nhượng thửa đất này giữa ông T1 và ông H1, thấy rằng đây là giao di ̣ch có sự vi phạm pháp luật cả về hình thức lẫn nội dung . Vi pha ̣m về hinh thứ c đó là giao di ̣ch dân sự này về phia chuyển nhượng , trong hai vợ c hồng

̀

́

ông T1, bà T2 chỉ một mình ông T1 ký, không có công chứ ng , không được đăng ký tại cơ quan Nh à nước có thẩm quyền , theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 127 Luâ ̣t Đất đai năm 2003; các Điều 707, 708 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 1995. Về nô ̣i dung, thử a đất đang tranh chấp vào thờ i điểm hai bên ký giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm, ông T1, bà T2 mớ i được UBND xa Q giao đẫ

́t, chưa được UBND huyê ̣n Q cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật , nên viê ̣c chuyển nhượng là trái vớ i điểm a khoản 1 Điều 106 Luâ ̣t Đất đai năm 2003. Tại thời điểm hai bên ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất, Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 1995 đang có hiê ̣u lực. Theo Điều 131 của Bộ luật này thì để giao dịch dân sự trên có hiệu lực , mô ̣t trong những điều kiê ̣n của nó là nô ̣i dung của giao di ̣ch không trái pháp luâ ̣t , hình thức của giao dịch phù hợp với quy định pháp luật . Như đa phân tĩ

ch ở trên thi giao di ̣ch dân sự

́

̀ giữa hai bên có sự vi pha ̣m cả về hinh thứ c và nô ̣i dung. Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm,

̀ ông H1 có trình bày sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất , ông có xây dựng trên đó nhà để canh giữ , chăm sóc các hải sản nuôi , nhưng quá trinh sử du ̣ng đa xuỗ

́ng cấp ,

̀ hư hỏng, nên không có yêu cầu xem xét giá tri ̣ tài sản này . Như vâ ̣y, cũng không có viê ̣c trên thử a đất được chuyển nhượng , ông H1 đa xây dự̃

ng công trinh kiên cố , có

̀ giá trị lớn, viê ̣c di chuyển se lã ̀m mất giá tri ̣ sử du ̣ng để xem xét áp dụng tinh thần ta ̣i tiết b .3, điểm b , tiểu mu ̣c 2.3, mục 2, phần II , Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để công nhận tính hiê ̣u lực của Hợp đồng này . Mă ̣t khác, sau khi ký kết hợp đồng , các bên cũng đã hoàn thành việc giao tiền , nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất , tứ c là Hợp đồng đa đượ̃

c thực hiê ̣n; ngoài ra, Hợp đồng này như đa phân tĩ

ch ở trên, không chi trả ́i pháp luâ ̣t ở hinh

́

̀ thứ c văn bản mà cò n trái pháp luâ ̣t ở mă ̣t nô ̣i dung , nên không thể áp du ̣ng điểm b , khoản 1 Điều 688, khoản 1 Điều 129 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015 để công nhận tính hiê ̣u lực của Hợp đồng. Do đó, cần phải xác đi ̣nh đây là Hợp đồng dân sự vô hiê ̣u.

Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án , quan điểm của ông H1 là yêu cầu Toà án

̀ công nhâ ̣n hiê ̣u lực của Hợp đồng chuyển quyền sử du ̣ng đất, thể hiê ̣n ta ̣i Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm mà ông T1 và ông H1 đa kỹ ́ kết vào ngày 15/3/2005. Yêu cầu đối vớ i Toà án này lớn hơn yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả Hợp đồng vô hiệu, do đó khi không thỏa mãn được yêu cầu của ông H1 về yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà ông T1 và ông H1 đã ký, Tòa án phải giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu nói trên. Việc giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu như án sơ thẩm thực hiện là chưa đúng, cần phải giải quyết lại như sau:

-Ông Nguyễn Thế H1 phải giao lại thửa đất số 911, diện tích 2.315 m2, tờ bản đồ số 5, tại Thôn 5, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là tổ dân phố 5, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC980874 ngày 25/7/2005 cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2;

-Ông Nguyễn Thế H1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 số tiền 408.000 đồng, là tiền mà ông T1, bà T2 đã nộp cho UBND phường Q thay cho ông H1 trong thời gian ông H1 sử dụng thửa đất trên từ năm 2015 đến năm 2019 để nuôi trồng thủy sản;

-Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải trả lại cho ông Nguyễn Thế H1 số tiền 10.000.000 đồng, là số tiền mà ông H1 đã giao cho vợ chồng ông T1, bà T2 sau khi hai bên ký Giấy chuyển đổi hồ nuôi tôm;

-Về xác định thiệt hại của ông Nguyễn Thế H1: Thửa đất tranh chấp hiện tại có giá là 81.025.000 đồng, theo Biên bản định giá tài sản ngày 10/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản do TAND thị xã Ba Đồn thành lập, thiệt hại của ông H1 là chênh lệch giá giữa giá quyền sử dụng thửa đất hiện tại theo xác định của Hội đồng định giá và giá quyền sử dụng thửa đất mà hai bên chuyển nhượng vào ngày 15/3/2005, đó là số tiền 81.025.000 đồng - 10.000.000 đồng = 71.025.000 đồng;

-Về xác định lỗi: Pháp luật buộc hai bên đều phải biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất khi chưa được UBND huyện Q có quyết định giao đất là hành vi trái pháp luật của cả hai bên, do đó đối với thiệt hại trên, mỗi bên có 50% lỗi, tương ứng với số tiền phải chịu là 71.025.000 đồng : 2 = 35.512.500 đồng;

-Về bồi thường thiệt hại:Như vậy trong số tiền thiệt hại 71.025.000 đồng ông Nguyễn Thế H1 phải chịu một phần thiệt hại là 35.512.500 đồng; phần thiệt hại còn lại là 35.512.500 đồng, vợ chồng ông T1, bà T2 phải bồi thường cho ông Hồng.

Yêu cầu khởi kiện của ông T1 về yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu được Tòa án xét xử sơ thẩm chấp nhận, Tòa án xét xử phúc thẩm giữ nguyên, nên theo điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, ông T1, bà T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ông Hồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng về việc Tòa án chấp nhận yêu cầu trên. Về giải quyết hậu quả Hợp đồng vô hiệu, Bản án phúc thẩm sửa án, theo đó ông T1, bà T2 phải hoàn trả và bồi thường cho ông H1 số tiền 45.512.000 đồng và giải quyết nghĩa vụ hoàn trả số tiền 408.000 đồng của ông H1 đối với ông T1, bà T2 , nên theo khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, ông T1, bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 2.275.600 đồng, ông H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng.

Án sơ thẩm buộc ông H1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng với lý do yêu cầu phản tố của ông H1 không được Tòa án chấp nhận. Việc buộc chịu án phí như vậy là không đúng. Bởi lẽ tại phần nhận định, Bản án sơ thẩm cho rằng ông H1 có ý kiến phản tố sau khi Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên đã quá thời hạn được phản tố. Như vậy vấn đề thực chất ở đây là Tòa án xét xử sơ thẩm đã không chấp nhận xem xét ý kiến bị đơn đưa ra, vì cho rằng đã hết thời hạn để được đưa ra ý kiến này, chứ không phải là Tòa án đã xem xét mà không chấp nhận. Mà khi Tòa án không xem xét yêu cầu của đương sự thì đương sự không phải chịu án phí. Mặt khác việc có hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AC 980870 mà UBND huyện Q đã cấp cho ông T1, bà T2 hay không là nội dung mà Tòa án phải xem xét đến khi giải quyết vụ án, dẫu bị đơn không có yêu cầu, do đó yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thế H1 đưa ra không phải là phản tố, đây chỉ là ý kiến của ông H1 trả lời về vấn đề liên quan trực tiếp đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó cần sửa án sơ thẩm về nội dung này, theo đó không buộc ông H1 phải chịu khoản án phí 300.000 đồng này.

Do Tòa án xét xử phúc thẩm sửa Á n sơ thẩm, nên theo khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Thế H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 37 Luật tổ chức TAND; khoản 2, khoản 4 Điều 131, Điều 133, Điều 136, Điều 139, khoản 1 Điều 693, Điều 707, Điều 708 Bộ luật Dân sự năm 1995; điểm a khoản 1 Điều 106, khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai năm 2003; điểm b khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1.Sửa án sơ thẩm như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15/3/2005 giữa ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Thế H1 (Nguyễn Văn H1) vô hiệu.

Buộc ông Nguyễn Thế H1 (Nguyễn Văn H1) trả lại cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 thửa đất số 911, diện tích 2.315 m2, tờ bản đồ số 05, tại thôn 5, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Tổ dân phố 5, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 980874 ngày 25/7/2005; hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 số tiền 408.000 đồng là số tiền nộp sản phẩm mà ông T1, bà T2 nộp thay ông H1 trong thời gian ông H1 sử dụng thửa đất từ năm 2015 đến năm 2019.

Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 trả lại và bồi thường cho ông Nguyễn Thế H1 (Nguyễn Văn H1) số tiền 45.512.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ngườ i được thi hành án cho đến

khi thi hành xong tất cả các khoản tiền , hàng tháng Bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mứ c lai suẫ

́t quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 468 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015 (do đây là trườ ng hợp các bên không có thoả thuâ ̣n).

Trườ ng hợp bản án được thi hành the o quy đi ̣nh ta ̣i Điều 2 Luâ ̣t Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự , Ngườ i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án , tự nguyê ̣n thi hành án , hoă ̣c bị cưỡng chế thi hành án theo quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 6,7,9,7a,7b Luâ ̣t thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi , bổ sung mô ̣t số điều của Luâ ̣t thi hành án dân sự năm 2014; thờ i hiê ̣u thi hành án dân sự được thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 30 Luâ ̣t thi hành án dân sự.

2.Ông Nguyễn Thế H1 (Nguyễn Văn H1) phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 2.275.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ đi số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, theo Biên lai thu tiền số 0002831 ngày 17/11/2017.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 25/8/2021.

Cỡ chữ