vanban.org

Bản án 25/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 04/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Thị Ng 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Thị Ng cho UBND thị trấn Ng, huyện L, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Nga phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HSST
Ngày: 04-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tân

Ông Nguyễn Trọng Quân

Thư ký phiên toà: Bà Trần Minh Phương- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Đoàn Lệ Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2020/HSST, ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Thị Ng, sinh năm 1988. HKTT: Phố H, Thị trấn Ng, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình Ng (đã chết) và bà Phạm Thị L, sinh năm 1963; Có chồng là Phạm Ngọc Q (đã chết); Có 01 con sinh năm 2011;Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

Bị hại: Chị Lê Thị T, sinh năm 1995 HKTT: Xã Th, huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06h00 phút ngày 09/7/2020, Lê Thị Ng điều khiển xe máy BKS 36K5-052.52 từ nhà ở thị trấn Ng xuống thành phố H, tỉnh Thanh Hóa để giải quyết công việc tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng 08h45 phút, Nga đến siêu thị Coopmart ở phường Đ, thành phố H, sau đó đi lên tầng 3 của siêu thị, vào cửa hàng Jolibee uống nước. Khi đang ngồi uống nước, Ng nhìn thấy bàn bên cạnh có 01 máy tính xách tay hiệu Dell N4110 màu đen xám không có ai trông coi nên Ng đã nảy sinh ý định trộm cắp. Ngồi quan sát một lúc, Ng đứng dậy cầm lấy chiếc máy tính, ôm vào người rồi đi xuống lấy xe, điều khiển xe máy đi về nhà và cất dấu chiếc máy tính trên.

Chị Lê Thị T là quản lý của cửa hàng Jolibee phát hiện chiếc máy tính của mình bị mất nên đã trình báo công an. Cơ quan điều tra đã trích xuất camera để truy tìm. Ngày 15/7/2020, Lê Thị Ng đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, tỉnh Thanh Hóa đầu thú và giao nộp lại chiếc máy tính trên.

Theo báo cáo của chị T, chiếc máy tính có giá trị 7.500.000đ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 179/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2020, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thanh Hóa đã định giá chiếc máy tính hiệu Dell N4110 có giá trị 5.250.000đ.

Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc máy tính hiệu Dell N4110 và trả lại cho chị T, chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Đối với chiếc xe máy BKS 36K5-052.52 Ng sử dụng đi từ nhà đến siêu thị, qua xác minh là của chị Lê Thị S (là em gái Nga). Chị S không biết việc Ng mượn xe đi trộm cắp tài sản nên cơ quan CSĐT không tạm giữ, xử lý.

Tại cáo trạng số 280/CT-VKS, ngày 29/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Thị Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Lê Thị Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thị Ng khai nhận: Khoảng 8h45 phút ngày 09/7/2020, tại cửa hàng Jolibee ở tầng 3 siêu thị Coopmart, phường Đ, thành phố H; Lê Thị Ng đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell N4110 có giá trị 5.250.000đ của chị Lê Thị T là quản lý của cửa hàng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lê Thị Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo là người có sức khỏe, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nảy sinh lòng tham, lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo cũng như giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú khai báo hành vi phạm tội và giao nộp lại tài sản đã trộm cắp, khắc phục hậu quả. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Căn cứ điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức giáo dục và phòng ngừa chung.

Về phần dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được trả lại cho chủ sở hữu. bị hại đã nhận lại tài sản và không có thắc mắc, yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Thị Ng 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị Ng cho UBND thị trấn Ng, huyện L, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về phần bồi thường dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14.

Bị cáo Lê Thị Ng phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ