vanban.org

Bản án 25/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh V phạm “tội trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh V 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2020. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh V phạm “tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. P
TỈNH N
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày: 04/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG L XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Kiều Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình- Ông Lê Đình Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh NHằng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

HUỲNH V, sinh năm 1993 tại tỉnh S. Nơi ĐKNKTT: ấp H, xã Đ, huyện V, tỉnh S; Chỗ ở hiện nay: khu phố 4, phường M, thành phố P, tỉnh N; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; không rõ tên cha, ông Huỳnh Văn T là cha nuôi, con ruột bà Lê Thị Th; vợ: Nguyễn Thị B và 02 con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 04 tháng 01 năm 2020 theo Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Phan Thanh T, sinh năm: 1987.

- Người làm chứng: Chị Phan Thanh N, sinh năm: 1990.

Cùng địa chỉ: khu phố 4, phường M, thành phố P (đều có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 4 giờ ngày 03 tháng 01 năm 2020, Huỳnh V đi bộ từ cảng cá Đ về nhà ở khu phố 4 phường M. Khi đến trước nhà ông Phan Thanh S, thấy cổng nhà ông S có khóa nhưng cửa bên hông nhà mở nên V nảy sinh ý định vào nhà để trộm cắp tài sản. Quan sát xung quanh thấy không có người, V trèo qua hàng rào phía trước nhà rồi đột nhập vào nhà ông S, đi đến phòng ngủ của chị Phan Thanh T là con gái của ông S, thấy trên tấm nệm có hai cái điện thoại di động, V lấy một điện thoại di động nhãn hiệu O F11 PRO, màu đen tím của chị T rồi đi ra khỏi phòng. Khi V vừa đi ra khỏi phòng ngủ, chị Phan Thanh N là em chị T tỉnh dậy thấy V nên la lên thì V bỏ chạy và trèo qua hàng rào, thoát ra ngoài.

Khoảng 1 giờ 50 phút ngày 04 tháng 01 năm 2020, tổ tuần tra Công an phường M tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường, khi đi đến đoạn đường Võ N thuộc khu phố 5, phường M, thành phố P, Tổ tuần tra phát hiện Huỳnh V có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu V dừng lại để kiểm tra, thì phát hiện trên người V có 01 điện thoại di động nhãn hiệu O F11 PRO, màu đen tím là điện thoại của chị Phan Thanh T bị mất trộm ngày 03 tháng 01 năm 2020.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01 ngày 06 tháng 01 năm 2020, Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu O F11 PRO, màu đen tím có giá trị thực vào thời điểm ngày 03 tháng 01 năm 2020 là 4.700.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời khai nhận ngoài vụ trộm cắp điện thoại di động của chị T, V còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P, cụ thể:

Vụ thứ nhất: khoảng 04 giờ ngày 18/11/2019, V đi bộ tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến nhà ông Nguyễn P, quan sát thấy cửa sổ bên hông nhà không đóng, V đi đến cửa sổ và thò tay lấy 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu trắng cuả ông P để ở trên bàn gần cửa sổ rồi đi về nhà. Đến chiều ngày 18/11/2019, V rủ Hồ Quốc L đến tiệm điện thoại Đ do anh Trương Hoàng Th làm chủ để bán điện thoại với gía 300.000 đồng. V nói với L đây là điện thoại của V. Số tiền bán điện thoại có được, V và L đã

2

sử dụng hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 11/02/2020, Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 điện thoại Vivo màu trắng không thu hồi được có giá trị thực vào thời điểm ngày 18 tháng 11 năm 2019 là 400.000 đồng.

Vụ thứ hai: khoảng 04 giờ ngày 10/12/2019, V đi bộ tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp. V đi đến nhà ông Lê Văn Nh thấy sơ hở, V đi vào nhà ông Nh bằng cửa sau và vào phòng khách lấy 01 điện thoại S J3 màu vàng đồng và đi về nhà. Đến chiều ngày 10/12/2019, V rủ Hồ Quốc L đến tiệm điện thoại Đ do anh Trương Hoàng Th làm chủ đề bán giá 300.000 đồng. Khi bán, V nói điện thoại trên là của vợ V. L và V đã tiêu xài hết số tiền này.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 11/02/2020, Hội đồng định gái tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 điện thoại S J3 màu vàng đồng đã qua sử dụng không thu hồi được có giá trị thực vào ngày 10 tháng 12 năm 2019 là 1.000.000 đồng.

Cáo trạng số 31/QĐ-VKSPR ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Huỳnh V về “tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không tranh luận. Khi nói lời sau cùng, bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến

3

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh V thừa nhận: Do cần tiền tiêu xài nên bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu O F11 PRO, màu đen tím của chị Phan Thanh T trị giá 4.700.000 đồng vào khoảng 04 giờ ngày 03 tháng 01 năm 2020. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đối với hai lần trộm cắp ngày 18/11/2019 và ngày 10/12/2019, giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự và Huỳnh V chưa có tiền án, tiền sự nên cơ qaun điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh V là đúng quy định cuả pháp luật. Vì vậy, cáo trạng số 31/QĐ-VKSPR ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Huỳnh V về “tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, cần phải xử lý nghiêm khắc.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do bị cáo đã phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu O F11 PRO, màu đen tím là điện thoại của chị Phan Thanh Thị Nhật T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho chị T là có cơ sở.

- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Vivo màu trắng đồng và 01 (một) điện thoại di động S J3 màu vàng đồng là tài sản V trộm cắp, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu hồi được.

- 01 điện thoại M màu vàng là tài sản của bị cáo nên cơ qaun cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho chị Nguyễn Thị B là vợ V theo yêu cầu của bị cáo là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phan Thanh T, ông Lê Văn Nh và ông Nguyễn P không có yêu cầu về bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

4

Đối với Hồ Quốc L, khi đi bán điện thoại cùng với V không biết những điện thoại trên do V trộm cắp mà có, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý là có căn cứ.

Ngoài những vụ trộm cắp nói trên, Huỳnh V khai nhận đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp trên địa bàn huyện Th. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th đang xác minh làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh V phạm “tội trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh V 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2020.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Người tham gia tố tụng;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh NT;

- Chi cụcTHADS TPP;

- VKSND TP.P;

- Công an tp. P;

- Sở Tư pháp tỉnh N;

- VKSND tỉnh N;

- Lưu HS+ án;

Ninh Thị Kiều Hạnh

5

Mai Tuấn

Trần Hoàng Liên

Ninh Thị Kiều Hạnh

6

7

Nguyễn Lê Anh Thƣ Trần Quốc Huy

Ninh Thị Kiều Hạnh

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

9

10

11

12

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

13

14

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8

15

tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2

16

Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ