vanban.org

Bản án 25/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi, phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; Các điểm b; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 17; Điều Điều 50; Điều 54; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Thành Đ 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2019. Được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 22/4/2019 đến ngày 25/4/2019)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thành Đ + ĐP - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi, phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 102 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25 /2020/HSST
Ngày 05/3/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

- Thẩm phán: Hoàng Lan Phương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Mạnh Cường.

Ông Hoàng Anh Thọ.

Bà Mai Thị Viện.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Dương Đ Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 Tháng 3 năm 2020, Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/HSST-QĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thành Đ, Sinh ngày: 13/9/2000.

Nơi ĐKHKTT: Số nhà 07/149 Nguyễn Tĩnh, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên Trường Cao đằng Bách khoa công nghệ Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Văn Vượng (Sinh năm 1970) và bà: Nguyễn Thị Hoa (Sinh năm 1967); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/4/2019 đến ngày 25/4/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 16/9/2019, bị cáo bị bắt để tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa cho đến nay (Có mặt).

2. Họ và tên: Lê Trung N - Sinh ngày: 03/11/2001.

Nơi ĐKHKTT: Số nhà H. phường Đ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lê Phước Long (Sinh năm 1977) và bà : Hoàng Vân Anh (Sinh năm 1978); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/4/2019 đến ngày 26/4/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị bắt để tạm giam từ ngày 16/9/2019 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

3. Họ và tên: Cao Ngọc Đ H - Sinh ngày: 15/9/2001.

Nơi ĐKHKTT: Số nhà Đ. phường Đ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Cao Ngọc Chương (Sinh năm 1977) và bà : Bùi Thị Hương Hiếu (Sinh năm 1976); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2019 đến ngày 25/4/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị bắt để tạm giam từ ngày 16/9/2019 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

4. Họ và tên: Mai Xuân Hi - Sinh ngày: 23/10/2001.

Nơi ĐKHKTT: Số nhà M, phường T, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Mai Xuân Hải (Sinh năm 1977) và bà: Phạm Thị Ngọc (Sinh năm 1979); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 16/9/2019 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

* Người bào chữa cho các bị cáo:

1. Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thành Đ: Bà Bùi Thị Hải - Công ty Luật TNHH Quốc tế Hoàng Nguyên.

Địa chỉ: Lô 177 đường Dương Đình Nghệ, phường Đông Thọ, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

2. Luật sư bào chữa cho bị cáo Mai Xuân Hi: Ông Nguyễn Văn Luận-Văn phòng Luật sư Nguyễn Luận.

Địa chỉ: SN 194 phố Tân Sơn, phường An Hoạch, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

3. Luật sư bào chữa cho bị cáo Cao Ngọc Đ H: Bà Nguyễn Thị Học - Công ty Luật Hợp Danh Hoàng Gia.

Địa chỉ: Lô 186 khu đô thị Đông Bắc Ga, đường Dương Đình Nghệ, phường Đông Thọ, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

4. Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Trung N: Bà Lê Thị Hoa - Văn phòng Luật sư Việt Hoa.

Địa chỉ: 09/91 Nguyên Hồng, phường Tân Sơn, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

* Người bị hại: Anh Lê Minh Đ, sinh năm 1996.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: SN 04 ngõ chùa Hội Quán, phường Ba Đình, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Lê Đình Tài và bà Trần Thị Hương (Là bố mẹ đẻ của bị hại).

Đều trú tại: SN 04 ngõ chùa Hội Quán, phường Ba Đình, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

* Những người làm chứng: (Đều vắng mặt tại phiên tòa)

- Anh Lê Đình Lương (SN 1991).

Trú tại: Lô 03 Lý Đạo Thành, P. Đông Thọ, TP Thanh Hóa, T.Thanh Hóa.

- Anh Lê Hồng Hảo (SN 2002).

Trú tại: SN 13, Nguyễn Sơn, P.Đông Vệ, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Đặng Sỹ Tùng (SN 1980).

Trú tại: SN 406 Bà Triệu, P. Đông Thọ, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Lê Minh Q (SN 1997).

Trú tại: SN 33 ngõ Nam Kỳ 40, Nam Ngạn, TP Thanh Hóa, T.Thanh Hóa.

- Anh Phạm Mai Ninh (SN 1999).

Trú tại: Phòng 519 nhà 1, chung cư Mai Xuân Dương, phường Đông Thọ, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Nguyễn Bá Long (SN 2000).

Trú tại: Ki ốt 13 đường Bà Triệu, phường Đông Thọ, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Trịnh Quang Chính (SN 1969).

Trú tại: SN 55/141 Lý Nhân Tông, phường Đông Thọ, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/3/2019, Nguyễn Đức L , sinh ngày 08/8/2002 trú tại số nhà 16/52/403 phố Hàm Nghiệp, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa cùng Trần Thành Đ, sinh ngày 13/9/2000 trú tại số nhà 07/149 phố Nguyễn Tĩnh, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa; Lê Trung N, sinh ngày 03/11/2001 trú tại số nhà 08/487 phố Hàm Nghiệp, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa; Cao Ngọc Đ H, sinh ngày 15/9/2001 trú tại số nhà 09A/123 Đông Tác, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa; Mai Xuân Hi, sinh ngày 23/10/2001 trú tại số nhà 12 Mai An Tiêm, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa và Lê Minh Q, sinh năm 1997 trú tại P421 - N2D2 Chung cư Mai Xuân Dương, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa cùng đi chơi và dừng lại uống nước ở quán của gia đình ông Trịnh Quang Chính tại khu vực phía sau Quảng trường Lam Sơn (đoạn giao với đường Lê Văn An).

Trong khi uống nước, Mai Xuân Hi và Trần Thành Đ thấy Lê Minh Đ (tức Đ “khỉ”), sinh năm 1996 trú tại phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa đi xe máy phía sau chở bạn gái là Lê Hồng Hảo, sinh năm 2002 trú tại phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa đi ngang qua. Do biết Nguyễn Đức L và Đ “khỉ” có mâu thuẫn với nhau từ trước nên Hi và Đ cùng nói với cả nhóm là “Thằng Đ “Khỉ” vừa đi qua”, nghe thấy vậy nên L hỏi lại “Nó đâu” thì Đ trả lời “Nó vừa đi vào khu Đông Bắc Ga”, L liền nói “Đi” nên cả nhóm đều hiểu là đi tìm Đ “Khỉ” để đánh và tất cả đồng ý đi cùng để giúp L. Lúc này Đ lấy xe chở Hi, H chở L, còn Q và N thì ở lại quán nước. Cả 02 xe máy đi vào khu Đông Bắc Ga tìm nhưng không thấy Đ “Khỉ” đâu nên cùng nhau quay lại quán nước nơi Q và N đang ngồi.

Cùng lúc này, Đ “Khỉ” điều khiển xe máy quay lại và đi qua chỗ L đang đứng, thấy Đ “Khỉ” thì L liền chửi “Đ. mẹ mi”, Đ “Khỉ” nghe thấy thì liền quay xe lại rồi hỏi L “Răng mi lại chửi tau?”. L không trả lời mà liền xông vào đánh Đ “Khỉ” bằng tay không dẫn đến cả hai cùng xô xát, đánh nhau. Thấy vậy, nên Đ, N, Hi và H cùng chạy từ quán nước ra xông lại hỗ trợ L, dùng chân, tay đánh Đ “Khỉ”. Bị đánh, Đ “Khỉ” chống trả lại quyết liệt nên H và Hi liền chạy lại quán nước gần đấy, H lấy 01 điều cày bằng luồng còn Hi thì lấy cây chổi xương dừa rồi cả hai cùng quay lại. L, N và Đ tiếp tục đánh Đ “Khỉ” bằng tay không. Liền lúc này L rút từ trong người ra 01 con dao nhọn dài khoảng 20cm - 25cm có lưỡi sắc, lưỡi rộng khoảng 02cm màu sáng rồi đâm Đ “Khỉ” nhiều nhát, trong đó có 01 nhát trúng vào vùng ngực - bụng làm Đ “Khỉ” cúi người xuống. Thấy Đ “Khỉ” bị L đâm thì H cầm điều cày chạy đến đập vào phần bả vai của Đ; Hi cũng dùng chổi xương dừa lao lại đánh, còn N và Đ thì dùng tay, chân tiếp tục đánh Đ “Khỉ”.

Thấy bạn bị đánh, chị Hảo liền hô hoán “anh Lương ơi, anh Lương!” rồi chạy vào can ngăn. Nghe thấy Hảo hô thì Lê Đình Lương, sinh năm 1991 trú tại số nhà 30 Ngõ Sùng, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa đang ngồi ở quán nước gần đó liền cầm 01 chiếc điều cày chạy sang. Khi sang đến nơi thấy có đông người đang vây quanh Đ “Khỉ”, còn Hảo thì ôm lấy Đ “Khỉ” đang nằm trên vỉa hè thì Lương cầm điếu cầy lao vào đánh những người xung quanh để giải vây cho Đ “Khỉ”. Lương vụt nhiều cái về phía nhóm của L trong đấy có 01 phát trúng vào tay Hi làm Hi bị rơi chổi xuống đường. Thấy Hi bị đánh nên H và Đ lao vào đánh Lương làm Lương bị rơi điếu cầy và bỏ chạy về hướng Khách sạn Sao Mai. Khi không thấy ai đuổi theo nữa thì Lương mới quay lại. Sau khi đuổi đánh Lương, thì H và Đ quay lại, thấy Đ “Khỉ” ôm bụng nằm dưới đất thì H, N và L tiến lại dùng chân đá thêm mấy cái vào người Đ. Lúc này L bảo cả bọn đi về nên L cùng Hi, N, Đ, H và Q lên xe máy rời khỏi hiện trường. Thấy nhóm của L bỏ đi thì Lương quay lại rồi cùng Hảo lấy xe máy đưa Đ “Khỉ” đến bệnh viện để cấp cứu.

Đ được được đưa đi cấp cứu nên không nguy hiểm tới tính mạng, đến nay sức khỏe đã tạm ổn định. Hiện Lê Minh Đ đang là bị can và bị tạm giam để điều tra trong một vụ án khác.

Từ ngày 16/4/2019 đến ngày 23/4/2019, Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi lần lượt đến Cơ quan điều tra xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng bọn.

Đối với Nguyễn Đức L : Sau khi gây án đã bỏ trốn khỏi địa phương. Hiện nay Cơ quan điều tra đã ra Lệnh truy nã đối với L về tội “Giết người”.

* Tại biên bản xác định hiện trường hồi 15 giờ ngày 02/10/2019 thể hiện:

Hiện trường xảy ra vụ án được xác định tại khu vực phía sau Quảng trường Lam Sơn, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, là đoạn giao giữa đường phía sau Quảng trương Lam Sơn và đường Lê Văn An.

Đoạn đường anh Lê Minh Đ chở bạn gái là Lê Hồng Hảo đi vào khu vực Đông Bắc Ga để đi vệ sinh xác định là đường Lê Văn An (đi theo hướng Quảng trường Lam Sơn đến khu Đông Bắc Ga).

Vị trí anh Lê Minh Đ đi từ khu Đông Bắc Ga quay trở ra Quảng trường Lam Sơn và gặp nhóm Nguyễn Đức L xác định ở ngay đoạn giao giữa đường Lê Văn An với đường phía sau Quảng trường Lam Sơn, ở ngay mép đường sát quán nước trên vỉa hè của gia đình ông Trịnh Quang Chính (vị trí số 1).

Vị trí anh Lê Minh Đ bị nhóm đối tượng vây đánh và dùng dao đâm xác định nằm ở vỉa hè bên phải đường phía sau Quảng trường Lam Sơn theo hướng từ Tây sang Đông (vị trí số 2). Khoảng cách giữa vị trí số 1 và vị trí số 2 là 11m.

* Thương tích của bị hại Lê Minh Đ:

- Biên bản xem xét dấu vết thân thể vào ngày 13/3/2019 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, thể hiện: “01 vết băng bó tại vùng hông bên trái cách nách trái 12cm; 01 vết băng bó tại bả vai trái cách cổ 10cm; 01 vết băng bó tại giữa hai bả vai cách cổ 10cm; 01 vết băng bó tại vùng cổ phía sau.”

- Tóm tắt Bệnh án sao của Bệnh viện TWQĐ 108 ngày 23/3/2019, chuẩn đoán: “Vết thương thấu ngực - bụng, tràn khí, tràn máu khoang màng phổi trái, rách cơ hoành trái, thủng dạ dày, vết thương gan hạ phân thùy III, vết thương cột sống cổ, gãy mỏm ngang C5 do vật sắc nhọn giờ thứ 5. Đã dẫn lưu khoang màng phổi trái, khâu vết thương rách cơ hoành trái, khâu hai lỗ thủng dạ dày, lau rửa dẫn lưu ổ bụng.”

- Ngày 11/4/2019, Trung tâm Pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe đối với Lê Minh Đ có kết luận số 181/2019/TTPY, nội dung: “Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Lê Minh Đ là 64%”.

- Ngày 22/11/2019,Trung tâm Pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định về cơ chế hình thành thương tích đối với thương tích của Lê Minh Đ có kết luận số 693/2019/TTPY, nội dung:

“+ 01 vết thương tại vùng hông bên trái cách hố nách trái 12cm, tương ứng vùng khoang liên sườn 9 - 10 đường nách sau bên trái có kích thước 1,5cm x 0,2cm: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật có cạnh sắc nhọn; gây vết thương thấu bụng; rách da, cơ, mô mềm, thủng dạ dầy, rách cơ hoành trái, đụng dập nhu mô gan trái hạ phân thùy II - III, tràn khí và tràn dịch khoang màng phổi trái. Đã được phẫu thuật xử lý vết thương; hiện tại còn di chứng các sẹo vết thương phần mềm và sẹo mổ dẫn lưu khoang màng phổi, xẹp phổi khu trú đáy phổi kèm dày đính khoang màng phổi trái.

+ 01 vết thương tại vùng bả vai trái cách cổ 10cm có kích thước 01cm x 0,2cm: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật có cạnh sắc nhọn. Đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng bả vai trái cách cổ 10cm;

+ 01 vết thương tại vùng giữa hai xương bả vai cách cổ 10cm có kích thước 1,5cm x 0,2cm: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật có cạnh sắc nhọn. Đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng hai xương bả vai cách cổ 10cm.

+ 01 vết thương tại vùng cổ phía sau lệch bên trái có kích thước 1,5cm x 0,2cm: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật có cạnh sắc nhọn; làm gãy mỏm ngang C5 đã được điều trị; hiện tại còn hình ảnh đường rạn đốt sống C5 (mảnh sống) và sẹo vết thương phần mềm vùng cổ phía sau lệch bên trái.

- Với vật chứng là con dao có đặc điểm: 01 con dao nhọn dài khoảng 20cm - 25cm có lưỡi sắc, bề rộng của lưỡi dao khoảng 2cm: Nếu được sử dụng làm vật gây thương tích thì có thể gây nên các vết thương trên cơ thể anh Lê Minh Đ.

- Tại thời điểm giám định pháp y về cơ chế hình thành vết thương: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.”

* Vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, do bị cáo Nguyễn Đức L đang bỏ trốn, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được con dao gây án hay đồ vật, tài liệu, vật chứng gì.

* Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:

- Ngày 24/9/2019, bà Trần Thị Hương (mẹ của bị hại Lê Minh Đ) báo cáo chi phí cấp cứu, điều trị và tiền chi phí cho người chăm sóc, tiền thu nhập thực tế bị mất và tiền bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 225.500.000 VNĐ.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã động viên gia đình bồi thường cho bị hại cụ thể: Gia đình bị cáo Mai Xuân Hi bồi thường 45.000.000đ; Ngày 14/11/2019, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mai Xuân Hi và không yêu cầu Tòa án giải quyết phần dân sự vì các bên đã thỏa thuận xong. Gia đình bị cáo Lê Trung N thỏa thuận và đã bồi thường tổng số tiền là 40.000.000đ. Gia đình bị hại cũng không yêu cầu giải quyết phần dân sự. Đồng thời, gia đình bị hại đề nghị Cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N. Gia đình bị cáo Trần Thành Đ bồi thường 20.000.000đ. Gia đình bị cáo Cao Ngọc Đ H bồi thường 20.000.000đ.

- Ngày 29/12/2019, gia đình bị cáo Trần Thành Đ và gia đình bị cáo Cao Ngọc Đ H, hai gia đình đã bồi thường thêm cho gia đình bị hại mỗi gia đình là 20.000.000đ. Gia đình bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ và bị cáo H.

Tổng cộng 04 gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại Lê Minh Đ số tiền là 165.00.000đ (Một trăm sáu lăm triệu đồng). Tại phiên tòa, đại diện cho bị hại bà Trần Thị Hương và ông Lê Đình Tài không yêu cầu các bị cáo Trần Thành Đ và Cao Ngọc Đ H, Mai Xuân Hi và Lê Trung N bồi thường thêm, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả 4 bị cáo này.

- Đối với Nguyễn Đức L , là người khởi xướng và trực tiếp cầm dao đâm Đ. Tuy nhiên, sau khi gây án L đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra đã ra Lệnh truy nã đối với Nguyễn Đức L . Ngày 27/11/2019, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định tách hồ sơ vụ án số 13/PC02 đối với bị can Nguyễn Đức L về tội “Giết người” quy định tại Điều 123 BLHS để tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS-P2 ngày 19/12/2019 Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, vai trò và hành vi phạm tội của các bị cáo, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b; s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Điều 15; Điều 17; Điều 54; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Thành Đ từ 06 (Sáu) năm đến 07 (Bẩy) năm tù. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b; s (Thêm điểm t đối với bị cáo Hi) khoản 1; khoản 2 Điều 51 Điều 15; Điều 17; Điều 54; Điều 57; Điều 58 Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 và Điều 102 BLHS. Xử phạt bị cáo Lê Trung N từ 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng đến 05 (Năm) năm tù, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm tù và trừ thời gian tạm giữ cho các bị cáo.

* Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi có quan điểm:

Các Luật sư hoàn toàn nhất trí với Cáo trạng và quan điểm luận tội của VKSND tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên mức án để áp dụng cho các bị cáo là cao, đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh gia đình các bị cáo là rất khó khăn. Sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, đều tác động đến gia đình để tự nguyện bồi thường dân sự cho người bị hại. Bị cáo Đ mới đủ tuổi thành niên còn các bị cáo khác đều là vị thành niên, hơn nữa đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ các điểm b; s; (điểm t đối với bị cáo Hi) khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 90; Điều 91; 98; Điều 101 và Điều 102 BLHS xử phạt các bị cáo ở mức nhẹ nhất dưới khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, nhanh chóng được trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

.Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung, tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo, người bị hại tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệpệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích của Lê Minh Đ cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận:

Do mâu thuẫn từ trước giữa Nguyễn Đức L và Lê Minh Đ nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/3/2019, tại khu vực phía sau Quảng trường Lam Sơn đoạn giao với đường Lê Văn An, khi thấy Đ điều khiển xe máy chở theo bạn gái đi qua thì L đã chửi Đ dẫn đến cả hai có lời qua tiếng lại rồi lao vào đánh nhau. Lúc này Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi thấy vậy liền xông vào hỗ trợ cùng L, dùng chân, tay đánh Đ. Thấy Đ chống trả quyết liệt nên H và Hi chạy lại quán nước ven đường lấy điếu cầy và chổi xương dừa rồi quay trở lại cùng đồng bọn đánh Đ. Cũng lúc này, L lấy trong người ra 01 con dao mũi nhọn dài khoảng 20cm - 25cm đâm Đ nhiều nhát, trong đó có 01 nhát trúng vào vùng ngực - bụng. Thấy L đâm Đ, Đ, N, H và Hi tiếp tục xông vào đánh Đ hỗ trợ L. Khi thấy Đ đang ôm bụng nằm dưới vỉa hè thì L, H và N tiến lại tiếp tục dùng chân đá vào người Đ thêm vài cái nữa. Sau đó thì L cùng Hi, H, N và Đ lên xe máy rời khỏi hiện trường. Lê Minh Đ được anh Lương và chị Hảo đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện. Hậu quả, Đ bị tổn hại cơ thể do các vết thương gây ra là 64%.

Hành vi của Nguyễn Đức L và đồng phạm thể hiện bản chất côn đồ, hung hãn bởi lẽ chỉ vì một nguyên cớ nhỏ nhặt mà L với sự giúp sức của các đồng phạm đã trực tiếp dùng con dao nhọn có lưỡi sắc là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng ngực bụng (là vị trí trọng yếu trên cơ thể) của anh Lê Minh Đ, gây ra vết thương thấu ngực, bụng, tràn khí, tràn máu khoang màng phổi trái, rách cơ hoành trái, thủng dạ dày; gây vết thương gan hạ phân thùy III. Tuy nhiên, sau khi gây án Nguyễn Đức L đã bỏ trốn khỏi địa phương. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Lệnh truy nã đối với Nguyễn Đức L .

Đối với Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi: Biết việc L và Đ có mâu thuẫn nhau từ trước nên khi thấy L và Đ xô xát thì Đ, N, H và Hi cùng xông vào hỗ trợ cho L và trực tiếp tham gia đánh Đ. Khi nhìn thấy L dùng dao đâm Đ thì H cầm 01 điều cầy, còn Hi dùng chổi xương dừa cùng N và Đ dùng tay không lao vào đánh Đ hỗ trợ L. Hành vi nêu trên của H, Hi, N và Đ đủ dấu hiệu cấu thành tội “Giết người” quy định điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS, với vai trò đồng phạm tham gia giúp sức cho Nguyễn Đức L .

Đây là vụ án “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa Đ. Tuy nhiên tính chất vụ án là đặc biệt nghiệpêm trọng, có nhiều đối tượng tham gia. Vụ án xảy ra trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, nơi tập trung dân cư đông đúc. Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải được xử lý nghiệpêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Cáo trạng của VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất đồng phạm, mức độ tham gia phạm tội của các bị cáo:

Khi bị L đánh, Đ chống trả lại quyết liệt, thấy vậy, các bị cáo Đ, H, N và Hi đã cùng nhau xông vào đánh Đ, H cầm điếu cầy, Hi cầm chổi xương dừa, Đ và N dùng tay chân cùng nhau đánh lại Đ. Khi anh Lê Đình Lương dùng điếu cầy đánh vào tay làm rơi chổi Hi đang cầm và khua loạn xạ nhằm giải vây cho Đ thì liền bị H và Đ đuổi đánh làm anh Lương phải bỏ chạy. H quay lại thấy Đ đang ôm bụng nằm dưới vỉa hè thì H và N tiếp tục dùng chân đá vào người Đ thêm nhiều cái nữa.

Đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất với nhau từ trước, chỉ khi phát hiện Lê Minh Đ chở bạn gái đi qua, các bị cáo mới nảy sinh ý định và cùng nhau đánh Đ, nên cần phải căn cứ vào mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo khi lượng hình để xem xét áp dụng mức hình phạt phù hợp, mới đảm bảo được tính nghiệpêm minh và công bằng của pháp luật.

Về thương tích của Lê Minh Đ là do L trực tiếp dùng dao gây ra. Các bị cáo Đ, H, N và Hi người dùng tay, chân, người dùng điếu và chổi, tuy không tạo ra phần trăm thương tích cho anh Đ nhưng đã tích cực giúp sức, H và N tham gia đến cùng. Khi phạm tội bị cáo Đ mới đủ tuổi thành niên, các bị cáo N, H và Hi đang độ tuổi vị thành niên, nên bị cáo Đ phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo N, H và Hi có vai trò ngang nhau, tuy nhiên HĐXX cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng mức hình phạt tương xứng cho từng bị cáo.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã đến Cơ quan điều tra xin đầu thú và khai báo thành khẩn, động viên gia đình bồi thường cho bị hại Đ tổng cộng 165.000.000đ (Một trăm sáu lăm triệu đồng). Trong đó gia đình Hi 45.000.000đ (Bốn lăm triệu đồng); Gia định bị cáo N 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng); Gia định bị cáo Đ và gia định bị can H mỗi gia đình 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Bị cáo Hi trước khi phạm tội đã có thành tích trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, tố giác nhóm đối tượng đánh bạc trên địa bàn Hện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Công an Hện Thường Xuân đã bắt, khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 31/5/2019 đối với các đối tượng này. Ngày 26/12/2019 Công an Hện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã có văn bản xác nhận thành tích cho Mai Xuân Hi.

Bị cáo Đ có ông nội là liệt sĩ, bà nội có công với cách mạng. Bị cáo H có ông nội là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Hơn nữa bị cáo H có văn bản đề nghị của UBND phường Đông Thọ và bị cáo Hi có xác nhận của UBND phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa, đề nghị TAND, VKSND tỉnh Thanh Hóa xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa Đ. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s (Thêm điểm t đối với bị cáo Hi) khoản 1, khoản 2 Điều 51; và khoản 1, khoản 3 Điều 102 BLHS. Đối với các bị cáo N, H và Hi tại thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi.

Đại diện gia đình bị hại Lê Minh Đ có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:

Trong quá trình điều tra, gia đình bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng là 225.500.000đ (Hai trăm, hai lăm triệu, năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, gia đình các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong cho gia đình bị hại Lê Minh Đ tổng số tiền là 165.000.000đ (Một trăm sáu lăm triệu đồng), gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên HĐXX cần chấp nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu, vật chứng gì nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi, phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; Các điểm b; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 17; Điều Điều 50; Điều 54; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Thành Đ 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2019. Được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 22/4/2019 đến ngày 25/4/2019).

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; Các điểm b; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 và Điều 102 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Trung N 04 (Bốn) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2019. Được trừ thời gian tạm giữ (Từ ngày 23/4/2019 đến ngày 26/4/2019).

Xử phạt: Cao Ngọc Đ H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2019. Được trừ thời gian tạm giữ (Từ ngày 16/4/2019 đến ngày 25/4/2019).

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; Các điểm b; s; t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 và Điều 102 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Mai Xuân Hi 03 (Ba) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (16/9/2019).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 246 Bộ luật Tố tụng Dân sự công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa gia đình các bị cáo Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi với người bị hại.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Thành Đ, Lê Trung N, Cao Ngọc Đ H và Mai Xuân Hi, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/3/2020).

Cỡ chữ