- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2020/HSST Ngày 24 - 6 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Khoa Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Minh Thân
Ông Nguyễn Thanh Lâm
Thư ký ghi biên bản phiên toà : Bà Dương Thị Thanh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện VKSND hu ện Thanh Thủ tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở T a án nh n d n huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. T a án nh n d n huy n Thanh Thủy mở phiên t a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2020/HS - ST ngày 9 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh N, sinh ng y 20/01/1984, tại thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ. Nơi ĐKHKTT + Chỗ ở hi n nay: Khu B, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ H vấn: 12/12; Nghề nghi p: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn Th - SN 1950 (Đã chết). Con bà Đ o Thị Th1 - SN 1950 (Đã chết). Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con duy nhất . Vợ: Nguyễn Thị L - SN 1983. Hi n nay ở thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ. Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016 Tiền sự: Không. Tiền án: Có 01 tiền án
Tại bản án số 20/2018/HSST ngày 31/7/2018, của Tòa án nhân dân huy n T n Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo N đã chấp hành xong thời gian thử thách của bản án ngày 31/01/2020, nộp án phí xong ngày 31/7/2018.
Bị cáo Nguyễn Anh N bị áp dụng bi n pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hi n nay bị cáo đang tại ngoại tại khu B, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Bị hại:
Ông Lương Hồng C - SN 1966
Địa chỉ: Khu 1 xã B, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1- Anh Nguyễn Đức T - SN 1983
Địa chỉ: Khu Tân Thành, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)
2- Ông Nguyễn Thái H - SN 1964
Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 11/3/2020, Nguyễn Đức T, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: khu Th, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ gọi đi n thoại rủ Nguyễn Anh N, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú: khu B, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ đi trộm cắp chó để bán lấy tiền tiêu sài. N đồng ý và hẹn T đến nh đón. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hi u YAMAHA Sirius màu đen, biển kiểm soát 19C1-273.xx đem theo 01 kìm sắt, 01 kiếm bằng kim loại, 01 dũa bằng sắt, 02 cuộn băng dính m u đen, 01 bình ắc quy, 01 bao tải màu trắng, đến nh đón N. N mang theo 01 súng bắn đi n tự chế (gồm 01 mũi tên có 2 ngạnh bằng kim loại sắc nhọn kết nối bằng d y đi n với nguồn đi n của 01 bình ắc quy), 01 bình xịt hơi cay v 01 cuộn băng dính m u đen. T và N thỏa thuận T sẽ điều khiển xe, còn N sẽ ngồi phía sau dùng súng để bắn chó. T chở N đi từ thị trấn T sang huy n Thanh Thủy. Khoảng 21 giờ, ngày 11/3/2020, cả hai đi đến địa phận khu 1, xã B, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, T phát hi n có 01 con chó, lông m u xám đang đứng ở ngo i đường bê tông, (con chó n y được xác định là của gia đình ông Lương Hồng C, sinh năm 1966, hộ khẩu thường trú: ở khu 1, xã B, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ). T dùng tay trái vỗ v o đùi trái của N để ra hi u cho N nhìn thấy con chó, T điều khiển xe mô tô tiến sát lại gần con chó, khi khoảng cách giữa xe mô tô và con chó còn khoảng 1m, N dùng súng đi n bắn trúng khuỷu chân trái phía sau của con chó khiến con chó bị trúng đi n nằm ngã ra đường. N xuống xe ôm con chó để lên yên xe mô tô. Đúng lúc đó, quần chúng nhân dân phát hi n tri hô, N bỏ con chó lại v lên xe mô tô để cùng T bỏ chạy. Do hốt hoảng, T loạng choạng tay lái v đ m xe mô tô v o tường. T cùng N bỏ xe mô tô lại bỏ chạy được khoảng 30 m thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ cùng toàn bộ vật chứng, con chó của gia đình ông C bỏ chạy về nhà.
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã B đã đến tiếp nhận tin báo và chuyển hồ sơ vụ án cùng vật chứng gồm: 01 xe mô tô nhãn hi u YAMAHA Sirius m u đen, biển kiểm soát 19C1 – 273.xx, 01 súng bắn đi n tự chế, 02 bình ắc quy, 01 bao tải màu trắng, 01 bình xịt hơi cay, 01 kiếm bằng kim loại, 01 kìm sắt, 01 dũa bằng kim loại, 03 cuộn băng dính m u đen, 01 đi n thoại di động nhãn hi u Sam sung A5 màu hồng đã cũ kèm sim trong máy số 0967131xxx thu giữ của T, tiền Vi t Nam 2.900.000 đồng (thu giữ của T 1.000.000 đồng, thu giữ của N 1.900.000 đồng), đến Cơ quan cảnh sát điều tra Cơ quan điều tra Công an huy n Thanh Thủy để điều tra theo thẩm quyền. Ông Lương Hồng C đã giao nộp con chó cho Cơ quan điều tra để xem xét dấu vết và định giá tài sản. Cơ quan điều tra đã giao lại con chó cho gia đình ông Lương Hồng C quản lý, chăm sóc, ông C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Cơ quan điều tra đã tiến h nh trưng cầu định giá đối với tài sản là con chó mà N và T trộm cắp. Ngày 16/3/2020, Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân huy n Thanh Thủy kết luận:“01 con chó, giống chó ta, màu lông xám, loại chó cái, trọng lượng 18 kg, con sống. Giá trị của con chó cần định giá nêu trên là: 1.530.000 đồng ( Một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng)”. ( Bút lục 84).
Tài sản do Nguyễn Anh N và Nguyễn Đức T trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng do N đang có 01 tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” nên lần vi phạm này của N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, Nguyễn Anh N đã th nh khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, lời khai của N phù hợp với lời khai của Nguyễn Đức T và các chứng cứ, tài li u có trong hồ sơ. (Bút lục 33 – 45).
Đối với Nguyễn Đức T, giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, bản thân T chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi vi phạm của T không cấu thành tội phạm. Công an huy n Thanh Thủy ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 57/QĐ –XPHC, mức phạt 1.500.000 đồng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hi u YAMAHA Sirius m u đen, biển kiểm soát19C1-273.xx thu giữ của T, quá trình điều tra xác định là xe của T mua của ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1964, hộ khẩu thường trú: Khu B, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ ngày 09/7/2019 với giá 17.000.000 đồng, T trả trước cho ông H 4.000.000 đồng và viết giấy nhận nợ với nội dung thỏa thuận sẽ trả dần cho ông H mỗi tháng 3.000.000 đồng, sẽ trả hết vào tháng 12/2019, nếu quá thời hạn trên T không trả đủ ông H sẽ có quyền lấy lại chiếc xe mô tô nêu trên, ông H vẫn giữ đăng ký chiếc xe này. Hi n tại T đã trả cho ông H tổng cộng 10.000.000 đồng và không có khả năng trả hết. Tại biên bản thỏa thuận ngày 10/4/2020, T và ông H thỏa thuận ông H sẽ lấy lại chiếc xe mô tô, số tiền 10.000.000 đồng T đã trả tính vào tiền hao mòn do T đã sử dụng xe, ông H không phải trả lại cho T. Ông H không biết vi c T sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản, do vậy ông đề nghị được trả lại chiếc xe mô tô nêu trên.
Đối với 01 chiếc đi n thoại di động Samsung A5 vỏ màu hồng đã cũ, kèm sim trong máy số 0967.131.xxx thu giữ của T xác định là chiếc đi n thoại T dùng để liên lạc rủ N đi trộm cắp tài sản.
Đối với chiếc đi n thoại của N dùng để liên lạc với T trước khi đi trộm cắp tài sản, do N đã l m mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Bản cáo trạng số: 33/CT-VKSTT ngày 08 tháng 6 năm 2020, của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Anh N về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 - Bộ luật Hình sự.
Tại phiên to hôm nay Kiểm sát viên - Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo v đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh N về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 - Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 173, điểm s, Khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N từ 6 đến 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bị cáo đi thi h nh án.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo Khoản 5 Điều 173 – BLHS cho bị cáo Nguyễn Anh N
Xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ vào điểm a, Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 súng bắn đi n tự chế gồm có: Phần mũi tên có 02 nghạnh bằng kim loại sắc nhọn kết nối bằng d y đi n với nguồn đi n của ắc quy.
02 bình ắc quy có chiều d i 0,83cm; 01 kìm có chiều d i 19cm, tay cầm bọc nhựa m u đen; 01 dũa bằng kim loại có chiều d i 16cm; 01 bao tải m u trắng; 01 bình xịt hơi cay; 03 cuôn băng dính m u đen; 01 kiếm sắt bằng kim loại m u đen dài 83 cm để tiêu hủy.
Tịch thu của anh Nguyễn Đức T 01 chiếc đi n thoại di động Samsung A5 vỏ m u hồng đã cũ để sung công quỹ nh nước.
Tịch thu của anh Nguyễn Đức T sim đi n thoại 0967.131.xxx để tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh N số tiền 1.900.000đ (Một tri u chín trăm ng n đồng)
Trả lại cho anh Nguyễn Đức T số tiền 1.000.000đ (Một tri u đồng)
Trả lại cho ông Nguyễn Thái H 01 chiếc xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius BKS 19 C1- 273.xx màu trắng, đen BKS 19 C1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô YAMAHA sirius: Nam, m u sơn đen: BKS 19C1 - 273.xx để quản lý sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ng y 22/6/2020 tại Chi cục Thi h nh án D n sự huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Về trách nhi m d n sự: Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủy đã trả lại ông Lương Hồng C 01 con chó cái, lông m u xám được trao trả v o ng y 12/3/2020, ông C không có yêu cầu gì.
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu và chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị hại là ông Lương Hồng C; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm có ông Nguyễn Thái H, anh Nguyễn Đức T đã được Toà án tri u tập tham gia tố tụng, nhưng họ đều vắng mặt. Tại phiên toà hôm nay bị cáo, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên to đề nghị Hội đồng xét xử không hoãn phiên to m đề nghị tiếp tục xét xử vắng mặt họ. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên to nhưng họ đã có lời khai, biên bản đối chất tại Cơ quan điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ tại phiên t a hôm nay không l m thay đổi đến bản chất, nội dung vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng xét xử vẫn T hành xét xử vắng họ là phù theo hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Tại phiên to hôm nay, bị cáo Nguyễn Anh N đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Thủy đã truy tố, không oan sai. Lời nhận tội của bị cáo l phù hợp với vật chứng thu được, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản đối chất v các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 11/3/2020, tại đường bê tông thuộc khu 1 xã B, huy n Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Nguyễn Anh N, sinh năm 1984, ở khu B, thị trấn T, huy n T cùng Nguyễn Đức T, sinh năm 1983 ở khu Tân Thành, thị trấn T, huy n T, tỉnh Phú Thọ, đã có h nh vi trộm cắp 01 con chó, giống chó ta, lông màu xám, có trọng lượng 18 kg của gia đình ông Lương Hồng C ở khu 1 xã B, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 1.530.000đ. Mặc dù giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Anh N trộm cắp dưới 2.000.000đ, nhưng do bị cáo N đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên lần trộm cắp tài sản này bị cáo N phải chịu trách nhi m hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 - Bộ luật Hình sự.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
1." Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.”
a) …;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Xét tính chất vụ án, h nh vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Anh N thấy rằng: Bị cáo N đã thực hi n h nh vi trộm cắp t i sản l 01 con chó của gia đình ông Lương Hồng C ở khu 1 xã B, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 1.530.000đ. Mặc dù giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Anh N trộm cắp dưới 2.000.000đ, nhưng bị cáo N đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo N bị xử lý về tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.
H nh vi phạm tội của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, g y mất an ninh trật tự trong khu vực, tạo nên t m lý hoang mang lo sợ trong khu d n cư v quần chúng nh n d n trong vi c trông giữ, bảo v t i sản của mình. Với lỗi cố ý bị cáo N đã x m phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về t i sản của công d n được pháp luật bảo v . Bị cáo N l người đã trưởng th nh có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được h nh vi trộm cắp t i sản của công d n l vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì không muốn lao động lại muốn có tiền hưởng thụ, nên bị cáo đã có h nh vi trộm cắp t i sản l 01 con chó của gia đình ông C dẫn đến vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần đưa bị cáo ra xét xử v có hình phạt tương xứng với h nh vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng v ph ng ngừa chung.
Xét về nhân thân, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Anh N l người có nhân thân xấu. Tại bản án số 20/2018/HSST ngày 31/7/2018, của Tòa án nhân dân huy n T n Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo N đã chấp hành xong thời gian thử thách của bản án ngày 31/01/2020, nộp án phí xong ngày 31/7/2018. Sau khi chấp h nh xong hình phạt trở về địa phương bị cáo không lấy đó l m b i H để tu dưỡng, rèn luy n, lao động l m ăn ch n chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản th n v gia đình m tiếp tục phạm tội.
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Anh N đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Tài sản bị trộm cắp là 01 con chó trị giá l 1.530.000đ, gây thi t hại không lớn, tài sản đã được Cơ quan điều tra thu hồi trả lại cho gia đình bị hại. Sau khi nhận lại tài sản (Con chó) ông C không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, bị cáo N được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm h, điểm s, Khoản 1 Điều 51 - BLHS. Trong vụ án n y bị cáo N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 52 – BLHS. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. HĐXX thấy rằng cần xử phạt bị cáo N hình phạt tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt m điều luật quy định, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cho bị cáo rèn luy n, lao động, cải tạo trở th nh người công d n sống có ích cho gia đình v xã hội.
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 - Bộ luật Hình sự thì bị cáo Nguyễn Anh N còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Theo xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủy thì bị cáo N hi n nay đang sống cùng vợ con, bản thân bị cáo không có vi c làm ổn định và không có tài sản riêng gì có giá trị. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo N là phù hợp.
Đối với Nguyễn Đức T l người rủ rê, chuẩn bị công cụ để cùng bị cáo N đi trộm cắp chó nh ông Lương Hồng C tại huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ có trị giá l 1.530.000đ, dưới 2.000.000đ, bản thân T chưa có tiền án, tiền sự, do đó Cơ quan điều tra Công an huy n Thanh Thủy ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T theo Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính phủ là phù hợp.
Đối vật chứng vụ án là 01 con chó cái, lông m u xám của gia đình ông Lương Hồng C đã được Cơ quan điều tra thu hồi trả lại theo biên bản trao trả t i sản ng y 12/3/2020. Sau khi nhận lại tài sản (Con chó) ông C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius BKS 19 C1- 273.xx màu trắng, đen, đăng ký chủ xe là chị Hà Thị Huyền, ông H mua chiếc xe mô tô trên để sử dụng, đến ngày 9/7/2019, ông H bán cho Anh Nguyễn Đức T giá là 17.000.000đ, anh T đã trả cho ông H 10.000.000đ, còn nợ lại 7.000.000đ. Khi mua, bán chiếc xe mô tô trên ông H và anh T có làm giấy biên nhận mua bán xe mô tô, hai bên thỏa thuận về giá, địa điểm, thời gian, giao, nhận xe và thời gian thanh toán và thỏa thuận ông H giữ lại đăng ký xe mô tô, trong hạn 05 tháng anh T phải trả đủ số tiền còn nợ và lấy đăng ký xe, nếu anh T không thực hi n thì ông H có quyền lấy lại chiếc xe mô tô trên. Ngày 11/3/2020 anh Nguyễn Đức T đã sử dụng chiếc xe mô tô trên cùng bị cáo Nguyễn Anh N đi trộm cắp ông H không biết. HĐXX thấy rằng chiếc xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius BKS 19 C1-273.xx màu trắng, đen trả lại cho ông H quản lý sử dụng là phù hợp.
Theo giấy thỏa thuận ngày 30/4/2020 anh T tự nguy n trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông H và anh T đồng ý cho ông H giữ lại số tiền 10.000.000đ đã trả, để ông H chi phí bảo dưỡng, sửa chữa hao mòn máy móc trong thời gian anh T dụng chiếc xe mô tô trên từ tháng 7/2019 đến nay, đ y l sự thỏa thuận của các bên. HĐXX không đặt ra để giải quyết.
Đối với chiếc đi n thoại di động của bị cáo Nguyễn Anh N dùng để liên lạc với Nguyễn Đức T trước khi đi trộm cắp tài sản, do bị cáo N đã l m mất, nên Cơ quan điều tra không thu hồi được để xử lý.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủy đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh N số tiền 1.900.000đ v anh Nguyễn Đức T 1.000.000đ. Số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội, nay cần được trả lại cho bị cáo N và anh T quản lý sử dụng.
Xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ v o điểm a, Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 súng bắn đi n tự chế gồm có: Phần mũi tên có 02 nghạnh bằng kim loại sắc nhọn kết nối bằng d y đi n với nguồn đi n của ắc quy.
02 bình ắc quy có chiều d i 0,83cm; 01 kìm có chiều d i 19cm, tay cầm bọc nhựa m u đen; 01 dũa bằng kim loại có chiều d i 16cm; 01 bao tải m u trắng; 01 bình xịt hơi cay; 03 cuôn băng dính m u đen; 01 kiếm sắt bằng kim loại m u đen d i 83 cm để tiêu hủy.
Tịch thu của anh Nguyễn Đức T 01 chiếc đi n thoại di động Samsung A5 vỏ m u hồng đã cũ để sung công quỹ nh nước.
Tịch thu của anh Nguyễn Đức T sim đi n thoại 0967.131.xxx để tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh N số tiền 1.900.000đ (Một tri u chín trăm ng n đồng)
Trả lại cho anh Nguyễn Đức T số tiền 1.000.000đ (Một tri u đồng)
Trả lại cho ông Nguyễn Thái H 01 chiếc xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius BKS 19 C1- 273.xx màu trắng, đen BKS 19 C1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô YAMAHA sirius: Nam, m u sơn đen: BKS 19C1 - 273.xx để quản lý sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ng y 22/6/2020 tại Chi cục Thi h nh án D n sự huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Về trách nhi m d n sự: Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủy đã trả lại ông Lương Hồng C 01 con chó cái, lông m u xám được trao trả v o ng y 12/3/2020
Về án phí hình sự: Bị cáo Nguyễn Anh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 173, điểm h, điểm s, Khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh N 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi h nh án.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo Khoản 5 Điều 173 - BLHS cho bị cáo Nguyễn Anh N .
[3] Xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ v o điểm a, Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 súng bắn đi n tự chế gồm có: Phần mũi tên có 02 nghạnh bằng kim loại sắc nhọn kết nối bằng d y đi n với nguồn đi n của ắc quy.
02 bình ắc quy có chiều d i 0,83cm; 01 kìm có chiều d i 19cm, tay cầm bọc nhựa m u đen; 01 dũa bằng kim loại có chiều d i 16cm; 01 bao tải m u trắng; 01 bình xịt hơi cay; 03 cuôn băng dính m u đen; 01 kiếm sắt bằng kim loại m u đen d i 83 cm để tiêu hủy.
Tịch thu của anh Nguyễn Đức T 01 chiếc đi n thoại di động Samsung A5 vỏ m u hồng đã cũ để sung công quỹ nh nước.
Tịch thu của anh Nguyễn Đức T sim đi n thoại 0967.131.xxx để tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh N số tiền 1.900.000đ (Một tri u chín trăm ng n đồng)
Trả lại cho anh Nguyễn Đức T số tiền 1.000.000đ (Một tri u đồng)
Trả lại cho ông Nguyễn Thái H 01 chiếc xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius BKS 19 C1- 273.xx màu trắng, đen BKS 19 C1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô YAMAHA sirius: Nam, m u sơn đen: BKS 19C1 - 273.xx để quản lý sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ng y 22/6/2020 tại Chi cục Thi h nh án D n sự huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Về trách nhi m d n sự: Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Thanh Thủy đã trả lại ông Lương Hồng C 01 con chó cái, lông m u xám được trao trả v o ng y 12/3/2020
Án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu án phí, l phí T a án.
Bị cáo Nguyễn Anh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi họ cư trú để đề nghị T a án nh n d n tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -VKSND huy n, Tỉnh - CA huy n - Sở Tư Pháp - Chi cục THA DS - UBND thị trấn T - Bị cáo - Bị hại, người có QLNVLQ - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Khoa Hương |