vanban.org

Bản án 25/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Lê Cảnh D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Cảnh D phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn B số tiền 30.379.000đồng (Ba mươi triệu, ba trăm bảy chín ngàn). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25 /2020/HSST
Ngày 27/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Lĩnh; Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lê Cảnh D, tên gọi khác: Không; sinh năm 1999 tại xã T, huyện TC,, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm P, xã T, huyện TC, tỉnh NA; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Con ông Lê Cảnh T, sinh năm 1961 và bà Đậu Thị L, sinh năm 1968; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 04; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư: Lê Đăng Tế - Cộng tác viên Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Xóm X , xã TH, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 05/02/2020, Lê Cảnh D điều khiển xe máy từ đường Hồ Chí Minh về nhà thì thấy Nguyễn Văn B đi xe máy ở phía trước cùng chiều. Do có mâu thuẫn với nhau từ trước với anh B nên D nảy sinh ý định đuổi đánh anh B để cảnh cáo. D dừng xe bên đường rồi lấy 01 ống tuýp sắt dài khoảng 1,2 m, đường kính khoảng 02cm dùng để làm hàng rào thép B40 của nhà dân ở bên đường cầm theo ở tay phải rồi tiếp tục lên xe máy điều khiển xe đuổi theo anh B. Khi rẽ vào lối đường đất cách đường Hồ Chí Minh khoảng 500m thuộc địa phận xóm Sơn Thịnh, xã Thanh Thịnh, huyện Thanh Chương thì gặp đường dốc cao, lầy lội, khó đi nên D xuống xe cầm theo ống tuýp sắt ở tay phải chạy đuổi theo anh B. Khi đuổi kịp anh B, D đứng ngang bên trái xe máy anh B dùng ống tuýp sắt đánh mạnh 01 phát trúng vào lưng của anh B khiến anh B bị ngã xuống và bị xe máy của mình đè lên người. Anh B đứng dậy thì bị D dùng ống tuýp sắt đánh tiếp 01 phát trúng vào vùng mông của anh B. Vừa lúc này có 02 người bạn của anh B là anh Lê Bá M và anh Nguyễn Bá L vào can ngăn nên D thôi không đánh anh B nữa mà bỏ về nhà. Anh Nguyễn Văn B về nhà và được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương đến ngày 12/02/2020 thì ra viện.

Ngày 19/02/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Chương đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm thương tật của anh Nguyễn Văn B. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 83/TTPY ngày 09/3/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế Nghệ An kết luận: Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 21% (Hai mươi mốt phần trăm)

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn B yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền là 94.608.930 đồng.

Bao gồm các khoản sau: Tiền thuốc có hóa đơn: 6.099.000 đồng; Tiền viện có hóa đơn: 1.279.930 đồng; Tiền mua sữa 260.000 đồng; Tiền ăn từ ngày 05/02 đến ngày 13/02 là 1.460.000 đồng; Tiền xe đi lại: 1.200.000 đồng; Tiền công lao động: 2.400.000 đồng; Tiền công người chăm sóc 2.000.000đồng; Tiền tổn thất tinh thần: 80.000.000 đồng. Bị cáo Lê Cảnh D chưa bồi thường cho bị hại.

Bản cáo trạng số 26/VKS -HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Lê Cảnh D về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Cảnh D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Lê Cảnh D mức án từ 30 đến 36 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 588, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Lê Cảnh D phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn B các khoản sau:

Tiền thuốc có hóa đơn: 6.099.000 đồng; Tiền viện có hóa đơn: 1.279.930 đồng; Tiền xe chở đi viện, đi giám định cả đi và về từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng; Tiền công do mất thu nhập: 2.400.000 đồng; Tiền công do mất thu nhập của người chăm sóc: 2.000.000đồng Tiền tổn thất tinh thần: từ 15.000.000 đến 20.000.000 đồng. Tổng cộng từ 27.000.000 đồng đến 33.000.000 đồng.

Bị cáo thuộc diện gia đình hộ nghèo năm 2020 do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Cảnh D không tranh luận về chứng cứ và tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Luật sư có ý kiến: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên toà thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người có trình độ văn hóa thấp do đó nhận thức pháp luật, xã hội còn nhiều hạn chế, dẫn đến xử sự không đúng mực, nên đã phạm tội. Từ các phân tích trên Luật sư đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử bị cáo mức án thấp nhất mà Điều luật quy định, thấp hơn mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Về dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 588, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Lê Cảnh D phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn B các chi phí điều trị tiền thuốc có hóa đơn,chứng từ và một khoản tiền tổn thất tinh thần, tiền công mất thu nhập, tiền công người chăm sóc với tổng số tiền là 30.000.000đồng như ý kiến của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện gia đình hộ cận nghèo năm 2020 do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Lê Cảnh D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung lời bào chữa của luật sư, bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Lê Cảnh D chấp nhận bồi thường cho bị hại chi phí điều trị, tiền thuốc có hóa đơn, chứng từ và một khoản tiền tổn thất tinh thần, tiền công mất thu nhập, tiền công người chăm sóc với tổng số tiền là 30.000.000đồng. (Ba mươi triệu)

Bị hại anh Nguyễn Văn B tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tiền xe đi lại, anh Bình cho rằng đại diện Viện kiểm dát đề nghị chấp nhận tiền xe đi về là 500.000 đồng đến 700.000 đồng là không đúng, thực tế anh thuê xe đi viện, đi giám định cả đi về hết 1.200.000đồng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Ngoài ra anh B không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với anh Nguyễn Văn B: Sau khi điều trị sức khỏe hồi phục và đã được cho ra viện, do đó việc đi về bằng phương tiện xe tắc xi là không hợp lý, vì vậy chỉ chấp nhận tiển xe đi về cho anh Nguyễn Văn B theo vé xe công cộng là hợp lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; bị hại không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Cảnh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở kết luận: Do trước đó có mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn B, nên khoảng 10 giờ ngày 05/02/2020, Lê Cảnh D gặp anh Nguyễn Văn B ở đường Hồ Chí Minh thuộc xóm Sơn Thịnh, xã Thanh Thịnh, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, D đã lấy ống tuýp sắt đuổi theo anh Nguyễn Văn B đánh gây tổn hại sức khỏe cho anh Nguyễn Văn B là 21 %. ( Hai mươi mốt phần trăm)

Bị cáo Lê Cảnh D dùng ống tuýp sắt đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Văn B là 21% thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo thì thấy rằng: Lê Cảnh D là có nhân thân tốt từ trước đến nay chưa bị xử lý hành chính và chưa phạm tội lần nào; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 do đó Hội đồng xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Văn B do đó anh B yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe là có căn cứ chấp nhận, đúng với quy định tại các Điều 584, 585, 588, 590 của Bộ luật dân sự. Tuy nhiên xét thấy bị hại yêu cầu một số khoản chưa hợp lý như tiền ăn là 1.460.000đồng; tiền mua sữa 260.000đồng; tiền xe chở đi giám định yêu cầu theo giá xe tắc xi 800.000đồng ; tiền tổn thất tình thần yêu cầu 80.000.000đồng quá cao so với thiệt hại xảy ra.

Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản sau: Tiền thuốc có hóa đơn: 6.099.000 đồng; Tiền viện phí có hóa đơn: 1.279.930 đồng; Tiền thuê xe chở đi viện từ xã Thanh Hương đến bệnh viện Thanh Chương cả đi và về 500.000 đồng; Tiền xe chở đi giám định từ Thanh Chương đến Vinh và ngược lại theo giá vé xe công cộng là 100.000đồng; Tiền công do mất thu nhập 09 ngày x 300.000đồng/ngày là: 2.400.000 đồng; Tiền công do mất thu nhập của người chăm sóc 08 ngày x 250.000đồng/ngày là :2.000.000đồng; Tiền tổn thất tinh thần khoảng 12 tháng lương cơ bản, tương đương số tiền 18.000.000 đồng. Tổng cộng chấp nhận các khoản là: 30.379.000đồng .

Đối với khoản tiền ăn, tiền mua sữa anh B yêu cầu là không hợp lý, bởi vì anh đã được trả tiền công mất thu nhập mỗi ngày là 300.000đồng, thì anh phải lấy đó để làm chi phí cho tiền ăn, tiền mua sữa.

Về xử lý vật chứng: Về ống tuýp sắt mà Lê Cảnh D dùng để đánh anh Nguyễn Văn B, bị cáo khai đã vứt bỏ lại bên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận xóm Sơn Thịnh, xã Thanh Thịnh, huyện Thanh Chương Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Chương đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy, vì vậy không có để xử lý.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện gia đình hộ nghèo năm 2020 và có đề nghị được miễn án phí do đó áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

V× c¸c lÏ trªn:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 588, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1.Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Lê Cảnh D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2.Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Cảnh D phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn B số tiền 30.379.000đồng (Ba mươi triệu, ba trăm bảy chín ngàn).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3.Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ