vanban.org

Bản án 25/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân thị trấn GK, huyện BX, tỉnh VP giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Phúc phạm tội vô ý làm chết người - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vô ý làm chết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 128 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HSST
Ngày 19 - 5 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Quỳnh và bà Trần Thị Bích Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn CĐ, thị trấn GK, huyện BX, tỉnh VP; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C và bà:Vũ Thị D; có vợ: Đàm Thị T và có 01 con: sinh năm 2019; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1946 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại: Ông Nguyễn Minh X, sinh năm 1947; Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1975; Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; đều trú tại: TDP CC, thị trấn HC, huyện TĐ, tỉnh VP; chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1971, trú tại: Xã NM, huyện LT, tỉnh VP; chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; trú tại: TDP YC, thị trấn HC, huyện TĐ, tỉnh VP.

Người được ủy quyền của ông X, anh H, anh H, chị H, chị H là anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1975; trú tại: TDP CC, thị trấn HC, huyện TĐ, tỉnh VP (vắng mặt).

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại TH (sau đây gọi tắt là Công ty TH); Người đại diện là ông Nguyễn Văn G (vắng mặt).

- Trung tâm viễn thông huyện TĐ; Người đại diện là ông Hoàng Th- Giám đốc Trung tâm viễn thông TĐ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/10/2019, Nguyễn Văn P ở thôn CĐ, thị trấn GK, huyện BX ký hợp đồng kinh tế với Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại TH (sau đây gọi tắt là Công ty TH) về việc thuê vận chuyển đất tại công trình đường vành đai phía đông huyện lỵ TĐ. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 11/11/2019, P có giấy phép lái xe hạng FC, do Sở giao thông thành phố HP cấp ngày 22/9/2017, có giá trị đến ngày 22/9/2022, điều khiển xe ô tô tải BKS 88C-166.55 của P đi từ nhà đến mỏ đất gần bãi rác ĐO thuộc xã HS, huyện BX để lấy đất lên thùng xe rồi chở đến đổ tại công trình đường vành đai phía đông huyện lỵ TĐ thuộc thôn CC, xã HC (nay là TDP CC, thị trấn HC),huyện TĐ theo hợp đồng đã ký kết. Khoảng 8h cùng ngày, P điều khiển xe đến vị trí đổ đất, P điều khiển cho xe nâng thùng xe ô tô lên mức cao nhất để đổ đất ra ngoài, rồi điều khiển xe ô tô di chuyển về phía trước khoảng 05m để cho đất ra hết thùng xe. Sau khi đất ra khỏi thùng xe, P dừng và xuống xe lấy phiếu giao nhận việc đổ đất rồi lên xe. Lúc này, P mới hạ thùng xe xuống, khi P cho hạ thùng xe xuống được khoảng 02m do không chú ý quan sát đường dây cáp quang Trung tâm viễn thông huyện TĐ (phía trước sát thùng xe) nên thùng xe của P đã vướng vào đường dây cáp quang, làm kéo đổ cột điện (bằng bê tông) cách ô tô của Phúc khoảng 50m và đổ vào người bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1948 ở thôn CC, xã HC, huyện TĐ đang đứng ở đường, P nghe thấy tiếng hô hào thì cho dừng không hạ thùng xe nữa. Hậu quả: Bà T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh VP nhưng đã tử vong vào 22h cùng ngày; ngoài ra bị gãy 01 cột điện và nứt 01 cột điện hình chữ A, dây cáp quang bị đứt.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TĐ đã phối hợp với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Tạm giữ 01 xe ô tô BKS 88C-166.55; 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn P.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ án tại khu vực đường bê tông liên thôn giữa thôn CC và thôn N H thuộc xã HC, huyện TĐ, có chiều rộng mặt đường 3,56m. Phía Tây Bắc là hướng đường đi về khu dân cư thôn CC, phía Đông Nam là hướng đường đi về khu đổ đất, hướng Tây Nam và hướng Đông Bắc giáp với ruộng và ao nước.

Tại hiện trường phát hiện một cột điện bằng bê tông (ký hiệu 1) gãy, đổ nằm ngang đường, đo từ điểm đầu cột điện đến điểm gãy là 4,2m, đo từ chân cột điện đến điểm gãy là 86cm, chân cột điện cách mép đường bên trái là 0,85m.

Tại hiện trường phát hiện 01 đám chất màu nâu đỏ (ký hiệu 2), dạng nhỏ giọt, nằm trên diện 15cmx13cm. Cách cột điện 1,4m, cách mép đường bên trái là 01m phát hiện đám chất màu nâu đỏ (ký hiệu 3) dạng nhỏ giọt trên diện 15cmx24cm. Cách vị trí cột điện 55,8m về hướng đi thôn CC phát hiện 01 xe ô tô tải BKS 88C-166.55, màu vàng đỗ tại vị trí bãi đất thi công, đầu xe hướng ra đường bê tông, đuôi xe hướng ra cánh đồng, thùng xe ở trạng thái kích cao, đo từ điểm cao nhất của thùng xe chưa ra đến mặt đường là 4,42m, đo từ vị trí dây điện trên nóc xe đến mặt đường là 3,81m.

Kết quả xem xét dấu vết trên xe ô tô tải BKS 88C-166.55: Không phát hiện dấu vết gì mới.

Kết quả giám nh pháp y v t thi:

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 127/TT ngày 19/11/2019 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“V. PHẦN KẾT LUẬN

1. Dấu hiệu qua giám định:

Tình trạng tử thi lạnh mềm, hoen tử thi đang hình thành phía sau cơ thể. Hai mắt khép, hai quầng mắt bầm tím, kết giác mắt hai bên xung huyết nhẹ, đồng tử hai bên giãn tối đa. Chấn thương sọ não sưng nề bầm tím rách da đỉnh đầu. Vỡ hộp sọ vùng thái dương đỉnh phải, còn rỉ máu trong hộp sọ ra ngoài.

2. Nguyên nhân chết:

Chấn thương sọ não nặng không hồi phục..”.

Ngày 15/11/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TĐ có Quyết định trưng cầu giám định số 290, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đoạn vi deo thu tại camera an ninh ở hiện trường được lưu trữ trong đĩa CD. Tại bản kết luận giám định số 2576A/KLGĐ ngày 08/12/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “01 tệp tin video lưu trong đĩa DVD gửi giám định có tên XRV ch3 main 20191111080000_20191111090000.dav” không phát hiện thấy dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung.

- Chụp được 09 ảnh về việc một người phụ nữ bị cột điện đổ vào người từ 01 tệp tin video gửi giám định, ảnh được in trong bản ánh giám định”.

Hỉnh ảnh video thu giữ được phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 xe ô tô tải BKS 88C-166.55, quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn P mua lại chiếc xe trên của công ty cổ phần đầu tư và thiết kế xây dựng HĐ do anh Vũ Minh H là giám đốc đại diện với giá 200.000.000đ. Sau khi sự việc xảy ra, P đã bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị T số tiền 85.000.000đ, gia đình bà T không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên ngày 23/3/2020, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho P chiếc xe trên.

Đồi với 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn P, Viện kiểm sát đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho P chiếc 01 giấy phép lái xe cho Nguyễn Văn P.

Đối với 01 đĩa DVD được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định có lưu giữ hình ảnh video liên quan đến vụ án cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với Công ty Thiên H, giám đốc đại diện là ông Nguyễn Văn G. Quá trình điều tra xác định: Hành vi của Nguyễn Văn P đổ đất trong công trình không chú ý đường dây điện nên khi P hạ thùng xe đã vướng vào đường dây điện, kéo đổ cột điện ở gần đó gây thiệt hại tính mạng cho bà Nguyễn Thị T hoàn toàn do lỗi vô ý do cẩu thả của P, không liên quan gì đến Công ty TH nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý .

Đối với 01 cột điện gãy và nứt 01 cột điện hình chữ A, dây cáp quang bị đứt, do thiệt hại nhỏ, không đáng kể nên Trung tâm viễn thông huyện TĐ tự khắc phục không yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Văn P và Công ty TH đã thỏa thuận với đại diện gia đình bà Nguyễn Thị T là anh Nguyễn Văn H thống nhất P và Công ty phải bồi thường cho gia đình bà T tổng số tiền 150.000.000đ bao gồm tiền điều trị tại bệnh viện, tiền mai táng phí và tiền tổn thất về tinh thần. Trong đó P phải bồi thường 85.000.000đ, Công ty bồi thường 65.000.000đ. P và Công ty đã bồi thường đủ. Sau khi nhận đủ tiền, gia đình bà T không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho P.

Tại Bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSTĐ ngày 20 tháng 4 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố: Nguyễn Văn P về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, phạt: Nguyễn Văn P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt những người đại diện hợp pháp của người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau:

Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 11/11/2019, Nguyễn Văn P có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô tải BKS 88C-166.55 của P chở đất đến đổ tại công trình đường vành đai phía đông huyện lỵ TĐ thuộc thôn CC, xã HC, huyện TĐ theo hợp đồng đã ký kết với Công ty TH. Khi đến vị trí đổ đất theo chỉ dẫn, P điều khiển cho xe nâng thùng xe ô tô lên mức cao nhất để đổ đất, rồi tiếp tục điều khiển cho xe ô tô di chuyển về phía trước khoảng 5m để cho đất ra hết khỏi thùng xe. Sau khi đổ hết đất ra khỏi thùng xe, quá trình P cho hạ thùng xe xuống được khoảng 2m do không chú ý quan sát đường dây điện nên thùng xe của P đã vướng vào đường dây điện, kéo đổ cột điện (bằng bê tông) cách xe ô tô của P khoảng 50m và đổ vào người bà Nguyễn Thị T. Hậu quả: Bà T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh VP nhưng đã tử vong vào 22h cùng ngày. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng không hồi phục.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm vào tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Do đó, Bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo thực hiện với lỗi vô ý vì chủ quan, hậu quả nằm ngoài ý muốn của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và đại diện cho gia đình bị hại nhận đủ số tiền và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn P và Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại TH đã bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị T tổng số tiền 150.000.000đ.

Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Văn P 01 xe ô tô tải BKS 88C-166.55.

Xác nhận Viện Kiểm sát đã trả lại cho Nguyễn Văn P 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn P.

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân thị trấn GK, huyện BX, tỉnh VP giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn P có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ