vanban.org

Bản án 25/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 27/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo TQD phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt TQD 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo TQD cho Ủy ban … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TQD cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo TQD phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HSST
Ngày: 27/3/2020

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 13/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 04/3/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/HSST-QĐ ngày 20/3/2020 đối với bị cáo:

TQD, sinh năm 1993

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông TQD1 và bà NTY; vợ: NTL (đã ly hôn) và có 01 con (sinh năm 2017); Danh chỉ bản số 49 lập ngày 23/12/2019 tại Công an huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không

Hiện bị cáo đang tại ngoại tại: huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa

* Người bị hại: Anh HQB, sinh năm 1996.

Trú tại: huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Có đơn xin vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh HTĐ, sinh năm 1996

Cư trú tại: huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.

2. Anh NXT, sinh năm 1993

Cư trú tại: huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

TQD và chị NTL1 có quan hệ họ hàng (D là em, bên chồng của chị L1). Khoảng tháng 9/2016, D và chị L1 đứng ra thuê máy gặt lúa để gặt lúa thuê cho các hộ dân ở xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Cùng thời điểm này, anh HQB cũng mang máy gặt lúa đi gặt thuê cho người dân ở xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ nên giữa D và anh B xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 30/09/2016, anh B ra cánh đồng Quán Trúc, thuộc huyện Chương Mỹ để gặt thuê cho các hộ dân ở cánh đồng Quán Trúc. Lúc này, D cùng NXT là bạn của D, đang ở quán karaoke của gia đình D thì nhận được điện thoại của một người báo anh HQB đang cản trở việc gặt lúa của D tại cánh đồng Quán Trúc. D rủ T đi cùng đến gặp anh B để nói chuyện. T điều khiển xe mô tô chở D xuống cánh đồng Quán Trúc. Khi đến nơi, T đứng trên bờ còn D xuống ruộng nói chuyện với anh B, khi đó anh B đang đứng cùng anh HTĐ. Tại đây, D nói với anh B “mày không được xuống đây gặt lúa”. Anh B nói với D “cho em làm nốt hôm nay” nên giữa D và anh B có lời qua tiếng lại với nhau. D ra bảo T điều khiển xe máy chở D quay ra chỗ bụi cây, nơi D cất giấu dao từ trước. D và T mỗi người cầm 01 con dao tự chế gắn tuýt sắt, mỗi con dài khoảng 1,2m – 1,3m quay lại chỗ anh B đang đứng. D xuống xe đi đến chỗ anh B đang đứng, D dùng dao chém một nhát vào cánh tay trái của anh B. Thấy D đánh anh B, anh Đ lao vào ôm D can ngăn. Thấy vậy, T cũng cầm dao chém một nhát vào khuỷu tay phải của anh B, anh B bỏ chạy. Trong khi D bị anh HTĐ ôm can ngăn D cầm dao khua một nhát vào sườn trái (vùng thắt lưng hông trái) của anh B, được anh Đ can ngăn nên D và T bỏ đi. Sau đó, anh B được anh Đ đưa đi cấp cứu.

Hậu quả: Anh HQB phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông từ ngày 30/09/2016 đến ngày 07/10/2016.

Kết luận giám định pháp y thương tích số 5285/C54-TT1 ngày 08/12/2016 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an xác định: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh HQB tại thời điểm giám định là 20%. Cơ chế hình thành thương tích do vật sắc gây nên.

Về vật chứng vụ án: 02 (hai) con dao D khai sau khi gây án đã vứt ở sông Bùi, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm, nhưng không thu giữ được.

Trong quá trình điều tra, gia đình TQD cung cấp bệnh án tâm thần đối với D nên Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với D.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 297/KLGĐ ngày 23/8/2017 kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội, TQD không có bệnh tâm thần. Tại thời điểm giám định, TQD hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần bổ sung số 01/GĐPYTTBS ngày 16/01/2018 xác định: Tại thời điểm giám định, TQD hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. TQD cần được điều trị bệnh. Do đó, ngày 19/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ ra Quyết định số 01/QĐ-VKS áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với TQD. Cùng ngày 19/01/2018, Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can để đưa TQD đi chữa bệnh bắt buộc. Ngày 22/11/2019, Viện Pháp y Tâm thần Trung ương ra Bản Kết luận giám định sức khỏe tâm thần sau điều trị bắt buộc chữa bệnh đối với TQD, kết luận: “Hiện tại, bệnh tâm thần của TQD đã khỏi, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Ngày 02/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ ra Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với TQD. Ngày 11/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra đối với TQD.

Về trách nhiệm dân sự: Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt NXT 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, buộc NXT phải bồi thường cho anh HQB tổng số tiền là 55.100.000 đồng và dành quyền khởi kiện cho NXT đối với TQD khi có yêu cầu. Tuy nhiên, NXT chưa bồi thường cho anh B. Ngày 21/01/2020, TQD tự nguyện khắc phục hậu quả nộp số tiền 55.100.000 đồng bồi thường cho anh HQB tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ. D không yêu cầu T phải bồi hoàn lại số tiền trên cho mình.

Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 26/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố TQD về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo TQD khai nhận hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã quy kết, bị cáo thừa nhận thương tích của anh HQB là do bị cáo và NXT dùng dao gây nên.

- Người bị hại là anh HQB có đơn xin vắng mặt đề nghị giải quyết về trách nhiệm dân sự và về hình phạt theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị: Xử phạt TQD từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục thu giữ số tiền 55.100.000 đồng do TQD tự nguyện nộp để bồi thường cho anh HQB theo quyết định của Bản án Hình sự phúc thẩm số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Về các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng; trưng cầu giám định pháp y về thương tích; trưng cầu giám định pháp y về tâm thần; áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can và người bị hại đúng quy định. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can.

. Về sự vắng mặt của người bị hại là anh HQB và những người làm chứng là anh NXT, anh HTĐ: Anh HQB đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và giữ nguyên lời trình bày trong quá trình điều tra vụ án; anh NXT và anh HTĐ đều đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của anh T và anh Đ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

. Về áp dụng điều luật khi xét xử: Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 1999 còn hiệu lực pháp luật. Tại thời điểm xét xử, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật, tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức hình phạt nhẹ hơn khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên cần áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo.

. Về nội dung:

. Tại phiên tòa, bị cáo TQD khai nhận hành vi dùng dao gây thương tích cho anh HQB ngày 30/9/2016 và thừa nhận thương tích của anh HQB là do bị cáo và NXT gây nên. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, Kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/09/2016, tại cánh đồng Quán Trúc, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, TQD cùng NXT đã có hành vi dùng dao tự chế chém gây thương tích cho anh HQB với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh HQB tại thời điểm giám định là 20%.

Hành vi dùng dao chém anh HQB gây thương tích cho anh HQB với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20% mà TQD cùng NXT thực hiện thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm là tình tiết định khung “Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố bị cáo TQD về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%...” thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phục hồi điều tra vụ án, bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền 55.100.000 đồng theo quyết định của Bản án Hình sự phúc thẩm số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ để bồi thường cho người bị hại là anh HQB, bị cáo có thời gian bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phục hồi điều tra vụ án đối với TQD, anh HQB yêu cầu được bồi thường số tiền 55.100.000 đồng theo quyết định của Bản án Hình sự phúc thẩm số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử đối với NXT. TQD đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền 55.100.000 đồng theo quyết định của Bản án Hình sự phúc thẩm số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ để bồi thường cho anh HQB và không yêu cầu NXT phải bồi hoàn. Xét đây là sự tự nguyện của bị cáo TQD và không trái quy định của pháp luật nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo TQD và tiếp tục lưu giữ số tiền 55.100.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ để thi hành án.

Đối với NXT đã bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm theo Bản án số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Số tiền 55.100.000 do TQD nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ cần tiếp tục lưu giữ để bảo đảm thi hành án đối với Bản án Hình sự phúc thẩm số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Về án phí: Bị cáo TQD phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo TQD phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt TQD 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo TQD cho Ủy ban nhân dân xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo TQD có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo TQD.

Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu TQD cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc TQD phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ số tiền 55.100.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, một trăm nghìn đồng) do bị cáo TQD đã nộp (theo biên lai thu số AH/2010/0008879 ngày 21/01/2020) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội để đảm bảo thi hành án đối với Bản án Hình sự phúc thẩm số 304/2018/HSPT ngày 24/05/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

5. Về án phí: Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc TQD phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Bị cáo TQD có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Người bị hại là anh HQB có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ