- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Nhật Q cướp giật TS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ___________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2020/HSPT Ngày 09-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng; Ông Đỗ Văn Hiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nga –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Cáp Văn Phương - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 09 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 27/2020/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Nhật Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Nhật Q. Sinh năm 1998 tại Gia Lai. Nơi cư trú: tổ 9, thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Không Trình độ văn hoá 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Chí H , bà Hồ Thị M. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2019 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai, có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 10/9/2019, Nguyễn Nhật Q điều khiển xe mô tô, khi đi đến phường Diên H, thành phố P, Q phát hiện phía trước cùng chiều có xe mô tô do anh Vũ Mạnh T điều khiển, phía sau chở chị Nguyễn Thị Thu H có đeo 01 túi xách bên tay phải. Thấy chị H sơ hở, Q nảy sinh ý định cướp giật túi xách của chị Hà để lấy tiền tiêu xài. Q điều khiển xe vượt lên bên phải xe anh T điều khiển, dùng tay trái giật túi xách của chị H đang đeo rồi tăng ga bỏ chạy, nhưng bị ngã. Q cầm túi xách vừa cướp giật được của chị Hà chạy bộ thì bị anh T, chị H truy hô, đuổi theo bắt giữ và giao cho Công an phường xử lý. Công an đã lập biên bản bắt người quả tang đối với Nguyễn Nhật Q, thu giữ các tài sản Q chiếm đoạt của chị Hà gồm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, số tiền 1.100.000 đồng và các giấy tờ cá nhân.
2.Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST ngày 18/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật Q phạm tội “cướp giật tài sản”
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Q 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2019
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng; nghĩa vụ chịu án phí; quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại theo luật định.
3.Kháng cáo của bị cáo:
Ngày 26/3/2020, bị cáo Nguyễn Nhật Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
4.Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Nhật Q không cung cấp thêm tình tiết gì mới và giữ nguyên kháng cáo
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 10/9/2019 tại khu vực phường Diên H, thành phố P, phát hiện anh Vũ Mạnh T chở chị Nguyễn Thị Thu H phía sau có đeo 01 túi xách bên tay phải, Nguyễn Nhật Q đã điều khiển xe mô tô, vượt lên trên xe anh T, giật túi xách của chị H, tăng ga bỏ chạy nhưng bị ngã, sau đó bị bắt giữ. Hành vi sử dụng xe gắn máy làm phương tiện để cướp giật tài sản, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại cũng như của những người khác khi lưu thông trên đường của bị cáo thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Sau khi cướp giật được tài sản là túi xách của bị hại, bị cáo bị ngã xe, bị cáo bỏ chạy, bị người bị hại truy hô và đuổi bắt được. Tài sản chiếm đoạt có giá trị 3.390.000 đồng, đã được thu hồi và trả lại ngay cho chủ sở hữu. Mặc khác, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; về nhân thân bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ và được tặng giấy khen vì có thành tích tốt; bản thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; gia đình có người thân hy sinh trong cách mạng; giai đoạn sơ thẩm được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Xét do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên mức án 04 năm tù mà bản án sơ thẩm đã tuyên là có phần nghiêm khắc. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự
1.Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhật Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST ngày 18/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Q 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/9/2019
2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Nhật Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND thành phố P; - Công an thành phố P; -Chi cục THA thành phố P; - Bị cáo;T20 - Lưu hồ sơ, Tòa hình sự, VT. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Văn Bình |