vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 21/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o, điểm s khoản 1, khoản

2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn L phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o, điểm s khoản 1, khoản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2020/HS-ST

Ngày: 21/05/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trà Thanh Tùng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tấn Ông Nguyễn Đình Dũng. - Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Yến - Kiểm sát viên. Trong ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo: NGUYỄN L, sinh năm 1938, tại: Tỉnh Quảng Ngãi, nơi cư trú: Thôn HP, xã TAĐ, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: Không, trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N (chết) và bà Hứa Thị B (chết); vợ: Có 03 vợ cụ thể như sau: Vợ thứ nhất: Lê Thị Kim L (chết). Vợ thứ hai: Dương Thị K (chết). Vợ thứ ba: Nguyễn Thị S, con: Có 4 người con, người lớn nhất 50 tuổi, người nhỏ nhất 40 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn L: Bà Bùi Thị Thuyết A - Là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. Địa chỉ: Số 108 đường PĐP, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt. Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn HB, xã TT, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt. Người làm chứng: 1/ Bà Đặng Thị T, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn HB, xã TT, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt. 2/ Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1941, địa chỉ: Thôn HP, xã TAĐ, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt. 3/ Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1952, địa chỉ: Thôn HB, xã TAĐ, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt. 4/ Ông Huỳnh Minh H, sinh năm 1959, địa chỉ: Thôn HB, xã TAĐ, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 21/9/2019, ông Nguyễn Thanh T đi về nhà bố mẹ ruột tại thôn Hạnh Phúc, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Khi về, ông T thấy vài đoạn dây điện giăng trước cổng do Nguyễn L (cha ruột ông T) cài để bẫy chó. Ông T nói với Nguyễn L: “Sao mà bẫy điện ở đây, coi chừng người nhà không chết thì người ngoài đường chết rồi ở tù rục xương đó”. Sau đó, giữa ông T và Nguyễn L xảy ra mâu thuẫn cãi vã, rồi ông T vào nhà ngồi xem ti vi với mẹ mình là bà Nguyễn Thị S còn Nguyễn L đứng ở ngoài sân nhà cắt rau cho vịt ăn. Lát sau, ông T đi ra ngoài sân, vừa đi vừa gọi điện thoại video cho cháu gái xem về việc L giăng dây điện, do bất cẩn nên ông T bị vấp bậc thang cấp, nhào người về phía L đang đứng cắt rau gần đó, Nguyễn L tưởng rằng ông T giật con dao để đánh mình, nên L cầm dao bằng tay trái chém ngang từ trái qua phải trúng vào vùng cổ phải của ông T một nhát, làm ông T ngã nằm dưới nền sân nhà. Lúc này, bà S từ trong nhà đi ra thì thấy T nằm trên nền bê tông ôm cổ, bà S có hỏi, thì L nói: “Tui chém trúng cổ thằng T hơi nặng rồi, giờ tui đi trình diện Công an”, rồi L điều khiển xe mô tô bỏ đi. Lúc này, máu ở cổ chảy ra nhiều, ông T đứng dậy kêu cứu và được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi. Tại bản kết luận giám định số 190/TgT ngày 27/9/2019 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ngãi tiến hành giám định và kết luận thương tích của Nguyễn Thanh T, cụ thể: - Tổn thương đám rối thần kinh cánh tay: 15%. - Tổn thương (đứt) tĩnh mạch cảnh trong: 5,95%. - 01 (Một) vết thương vùng cổ: 0,79%. Tổng cộng: 21,74%. Làm tròn số = 22%. * Tổn thương phù hợp vật sắc gây thương tích. Căn cứ Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ Y tế quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 22% (Hai mươi hai phần trăm). Bản cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 15/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố: Nguyễn L về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Và đề nghị xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Người làm chứng bà Đặng Thị T, ông Huỳnh Minh H đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn L khai nhận hành vi phạm tội của mình: Vào khoảng 14 giờ ngày 21/9/2019, bị cáo Nguyễn L chỉ vì mâu thuẫn với con đẻ Nguyễn Thanh T về việc cãi vã vài đoạn dây điện giăng trước cổng nên bị cáo Nguyễn L sử dụng con dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích đối với Nguyễn Thanh T với tỷ lệ thương tích 22% (Hai mươi hai phần trăm). Hành vi của bị cáo L thực hiện nhanh chóng, không kịp suy nghĩ và không có thời gian để canh, chỉnh dao khi chém và việc trúng vào cổ ông T là ngoài mong muốn. Bị cáo L không có ý định tước đoạt tính mạng đối với ông T và được thể hiện là sau khi chém trúng ông T thì bị cáo vứt dao và có nói với vợ là bà S: “Tui chém trúng cổ thằng T hơi nặng rồi, giờ tui đi trình diện Công an”. Ngoài ra, L không hề có ý định bỏ mặc hậu quả vì khi L lại gần xem ông T nằm ôm cổ trên nền sân, thì bị cáo L thấy có vợ L đứng gần đó và một phần vì sợ nên bị cáo L mới điều khiển xe mô tô đi. Hành vi của bị cáo Nguyễn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Lời khai nhận tội của bị cáo L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo L tại các biên bản hỏi cung bị can, biên bản sự việc, phù hợp với lời khai của bị hại ông Nguyễn Thanh T, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích của ông Nguyễn Thanh T, phù hợp với cơ chế hình thành vết thương do bị cáo L gây ra, phù hợp với hiện trường đã được Cơ quan điều tra tổ chức khám nghiệm. Hành vi bị cáo L dùng dao là hung khí nguy hiểm chém trúng vào cổ gây thương tích cho ông Nguyễn Thanh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên 22% quy định tại tiểu mục 3.1 mục 3 của Nghị Quyết số: 01/2006 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo L là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do trong lúc cãi vã không kiềm chế được nên đã dùng dao gây thương tích cho ông T. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, bị cáo Long thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người trên 70 tuổi, bị bệnh viêm phổi, viêm loét dạ dày, bị hại ông T xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L. Bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị Quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo L hưởng án treo

cũng đủ tác dụng giáo dục và để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo bản thân trở thành người công dân tốt cho xã hội. [3] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Nguyễn Thanh T là con đẻ của bị cáo Nguyễn L không yêu cầu bồi thường thiệt hại. [4] Về xử lý vật chứng: - 01 (Một) con dao xắt chuối có chiều dài là 78,5cm. Đây là hung khí bị cáo Long sử dụng gây thương tích cho ông T nên tịch thu tiêu hủy. [5] Qúa trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo L, bị hại ông T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp. [6] Về án phí trong vụ án hình sự: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nhưng được miễn theo Thông báo về việc miễn tiền án phí số 220/TB-TA ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi. [7] Tuyên quyền kháng cáo cho người tham gia tố tụng. [8] Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn L đề nghị xử phạt bị cáo L nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận. [9] Với những nhận định trên phù hợp với ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Nguyễn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/5/2020. Giao bị cáo Nguyễn L cho Ủy ban nhân dân xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn L trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 2/ Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Nguyễn Thanh T không yêu cầu bồi thường. 3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao xắt chuối có chiều dài là 78,5cm, phần cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 46,5cm, đường kính cán gỗ là 03cm, phần lưỡi dao dài 32cm, lưỡi dao rộng 5,4cm. (Vật chứng trên có đặc điểm tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2020 giữa Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi).

4/ Về án phí trong vụ án hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nhưng được miễn theo Thông báo về việc miễn tiền án phí số 220/TB-TA ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi. 5/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ