vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 13/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng P (Bợm P) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Nguyễn Hoàng P (Bợm P) 06 ( sáu ) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hoàng P bị truy tố về tội "Lừa đảo chiểm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 BLHS - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng P (Bợm P) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN L-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày 13.5.2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trƣơng Thị Mỹ Hạnh

Nơi công tác: Giảng viên trường CĐ kinh tế kế hoạch TP Đà Nẵng

2/ Ông Nguyễn Văn Dũng

Nơi công tác: Hội Nông dân quận L, TP Đà Nẵng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận L thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Luận - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13.5.2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận L thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2020/TLST-HS ngày 04.3.2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXXST-HS ngày 20.4.2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng P (Bợm P); Sinh ngày: 03.9.1995 tại Đà Nẵng

CMND số: 201687354 do Công an TP Đà Nẵng cấp ngày 13.6.2019

Nơi ĐKNKTT: tổ 56, phường HKN, quận L, Đà Nẵng.

Chổ ở: tổ 51B, phường HKB, quận L, Đà Nẵng.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không

Con ông: Nguyễn M (1963) và bà Nguyễn Thanh Thị Thúy P (1966).

Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Nhân thân:

- Ngày 13.3.2017, bị Công an quận L, TP Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ném vỏ bia vào người khác”.

- Ngày 28.7.2017 bị Công an quận L, TP Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

* Bị hại: Ông Nguyễn Công M, sinh năm 1992, SDT:0901975523 (vắng mặt)

Trú tại:thôn Tam Mỹ, xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985. SĐT: 0906470570(vắng mặt)

Trú tại: số 147 Nguyễn Lương Bằng, quận L, TP. Đà Nẵng.

2.Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1996. SDT: 0921966275(vắng mặt)

Trú tại: 140/42 Nguyễn Chánh, quận L, TP Đà Nẵng

NHẬN THẤY

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 06 tháng 11 năm 2019, Nguyễn Hoàng P nhờ một người đi đường (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho tổng đài Taxi Vinasun để đặt xe Taxi. Tổng đài Taxi Vinasun có yêu cầu anh Nguyễn Công M (sinh năm 1992; trú tại: xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) là tài xế lái xe Taxi Vinasun để thực hiện việc chở Phúc. Khi gặp anh Mạnh, Phúc yêu cầu anh Mạnh chở về đường Hoàng Văn Thái, phường HKN, quận L để gặp bạn. Trên đường đi, thấy anh Mạnh có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50, màu đen để tại vị trí gần cần số xe nên Phúc nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Mạnh để cầm cố lấy tiền tiêu xài cũng như sẽ không trả tiền cước vận chuyển cho anh Mạnh. Khi đến đường Hoàng Văn Thái, Phúc yêu cầu anh Mạnh chở vào đường kiệt 324 (đường kiệt này thông với đường kiệt 286), anh Mạnh điều khiển xe đi vào một đoạn đến địa chỉ 286/25 đường Hoàng Văn Thái, do đường kiệt nhỏ và tối nên anh Mạnh không đi vào trong nữa. Lúc này, Phúc nói anh Mạnh cho mượn điện thoại để gọi cho bạn ra đón. Sau khi nhận được chiếc điện thoại từ anh Mạnh, Phúc cầm điện thoại xuống xe nhưng anh Mạnh cũng xuống cùng nên Phúc không thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản. Để anh Mạnh tin tưởng, Phúc dùng điện thoại của anh Mạnh gọi điện cho một người bạn tên Thiện (không xác định được lai lịch) nói: “ra Kiệt 286 đón!”, rồi quay lại ngồi vào ghế phía sau xe mà không trả lại chiếc điện thoại. Thấy vậy, anh Mạnh cũng vào lại xe ngồi bên ghế lái xe. Tiếp đó, Phúc nhờ anh Mạnh mở khóa chiếc điện thoại để nhắn tin cho bạn (có soạn tin nhắn nhưng không gởi đi). Khoảng 03 phút sau, thấy điện thoại của anh Mạnh báo có cuộc gọi đến nên Phúc giả vờ nghe máy rồi mở cửa xuống xe đi vệ sinh, lợi dụng anh Mạnh không có nghi ngờ gì và không để ý, Phúc đi thẳng về phía trước rồi rẽ vào đường kiệt phía bên tay trái (cách vị trí đậu xe khoảng 10 mét), sau khi khuất tầm nhìn từ vị trí xe thì Phúc bỏ chạy ra đường kiệt 286 thông ra đường Hoàng Văn Thái rồi đi về nhà. Khoảng 02 phút sau không thấy Phúc quay trở ra, anh Mạnh xuống xe đi tìm kiếm nhưng không thấy Phúc nên anh Mạnh đến Công an phường HKN, quận L để trình báo sự việc Phúc đã chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 màu đen và không trả số tiền cước taxi là 219.000 đồng cho anh Mạnh. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại, sáng cùng ngày Phúc đem chiếc điện thoại này đến tiệm cầm đồ Văn Tiến (địa chỉ: 147 đường Nguyễn Lương Bằng, phường HKB, quận L) do anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1985) làm chủ, Phúc gặp anh Nguyễn Huy H (Sinh năm:1996, Trú tại: Tổ 10, phường Mỹ An, quận Ngũ hành Sơn, TP Đà Nẵng) là nhân viên của tiệm để cầm với giá 3.000.000 đồng. Số tiền có được từ việc cầm cố chiếc điện thoại, Phúc sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, Cơ quan Công an đã tiến hành mời Phúc về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan CSĐT Công an quận L, Phúc đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Theo Kết luận số 91/KL-HĐĐG ngày 11.11.2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận trị giá một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 là 4.794.000đồng (Bốn triệu bảy trăm chín mươi bốn ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Hoàng P chiếm đoạt của anh Nguyễn Công M là 5.013.000đồng (Năm triệu không trăm mười ba ngàn đồng)

Tang vật tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 màu đen.

Ngày 30.12.2019, Cơ quan CSĐT Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 05/CSĐT trả lại cho anh Nguyễn Công M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 màu đen.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 02.3.2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo, đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 174 ; điểm b,h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về phần dân sự: Đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng P phải bồi thường cho người bị hại ông Nguyễn Công M số tiền cước vận chuyển taxi là 219.000 đồng. Người bị hại không yêu cầu gì thêm nên VKS không đề cập đến.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng như đã đề cập tại bản cáo trạng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng P đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình. Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được sai trái, ăn năn hối cải, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 00h50’ ngày 06.11.2019 tại khu vực kiệt 286 đường Hoàng Văn Thái thuộc phường HKN, quận L, TP Đà Nẵng, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân Nguyễn Hoàng P đã bằng thủ đoạn gian dối là mượn điện thoại của anh Nguyễn Công M là tài xế taxi để gọi bạn ra đón, để tạo cho Mạnh tin tưởng bị cáo đã nhờ anh Mạnh mở khóa điện thoại để nhắn tin cho bạn nhưng không gửi, khi thấy cuộc điện thoại đến máy của anh Mạnh bị cáo đã giả vờ nghe rồi xuống xe khi thấy anh Mạnh không nhìn thấy nên bị cáo đã cầm điện thoại đi thẳng vào kiệt 286. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Công M là điện thoại Samsung A50 màu đen trị giá 4.794.000 đồng và tiền cước vận chuyển là 219.000 đồng. Tổng cộng là 5.013.000 đồng (năm triệu không trăm mười ba ngàn đồng)

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 BLHS. Như vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận L truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi ném vỏ bia vào người khác và sử dụng trái phép chất ma túy, nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy việc đưa bị cáo ra xét xử và tuyên phạt một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa.

Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quản cho người bị hại, phạm tội gây thiệt hai không lớn, phạm tội lần đầu và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại. Nên HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình, thể hiện tính nhân đạo của nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng P phải bồi thường cho người bị hại ông Nguyễn Công M số tiền cước vận chuyển taxi là 219.000 đồng. Người bị hại không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng P (Bợm P) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

-Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm b,h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự . Xử phạt:

Nguyễn Hoàng P (Bợm P) 06 ( sáu ) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn)

3.Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ