vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 01/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên: Bị cáo Nguyễn Văn Khánh phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Văn Khánh 08(Tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kh trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên: Bị cáo Nguyễn Văn Khánh phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUAN HÓA
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:25/2020/HS-ST
Ngày: 01- 9- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: - ông Hà Hữu Dược

- bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Vào ngày 01 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 08 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Khánh - Sinh năm 1996, tại Thị trấn Phong Sơn huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu 3 Thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn Thư và bà Trần Thị Bình. Bị cáo có vợ là Hà Thị Liên và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 30 ngày 18/8/2020. Có mặt

- Bị hại: Phạm Bá Diện – sinh năm 1979 – Trú tại khu Mướp, Thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, Thanh hóa. Vắng mặt có lý do

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Chị Hà Thị Liên – Sinh năm: 1998 trú tại khu 3 Thị trấn Hồi Xuân, huyện Qaun Hóa, Thanh Hóa. Có mặt

2. Anh Vi Văn Thiệp – sinh năm 1986 – trú tại Khu Khằm, Thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, Thanh Hóa. Vắng mặt có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14h30’ ngày 11/5/2020 Công an thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tiếp nhận tin báo của anh Phạm Bá Diện, sinh năm 1979, trú tại khu Mướp, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa về việc trong khoảng thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020 gia đình anh bị mất cắp 01 (một) chiếc cưa máy chạy bằng xăng, màu da cam, nhãn hiệu SPADA anh Diện mới mua ngày 01/5/2020 với giá 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Đến khoảng 18 giờ ngày 10/5/2020 anh Diện được anh Phạm Bá Ngoặt là người cùng khu với anh Diện thông báo có nhìn thấy chiếc cưa máy giống với cưa máy mà anh Diện bị mất ở nhà anh Vi Văn Thiệp, sinh năm 1986, trú tại khu Khằm, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. Sau đó anh Diện đến nhà anh Thiệp để xem thì xác định đúng là chiếc cưa máy mà anh Diện bị mất. Đến ngày 11/5/2020 anh Phạm Bá Diện đến công an thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa để trình báo; sau đó vụ việc được bàn giao đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Hóa thụ lý giải quyết theo luật định.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/HĐĐGTS ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Quan Hóa kết luận:

- 01 máy cưa màu da cam, nhãn hiệu SPADA, đã qua sử dụng có giá trị: 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Qua kiểm tra, xác minh tin báo tố giác về tội phạm, CQĐT Công an huyện Quan Hóa xác định Nguyễn Văn Khánh, trú tại Khu III, Thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa chính là người trộm cắp chiếc máy cưa trên của anh Phạm Bá Diện nên tiến hành khởi tố, điều tra. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Khánh đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 13h00 ngày 07/5/2020 sau khi ăn cơm nhà người quen ở xã Phú Xuân, huyện Quan Hóa, Khánh điều khiển xe mô tô mang BKS 36B1-175.04 về nhà ở khu 3, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, khi đi đến nhà anh Hà Văn Long ở khu Mướp, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa thì Khánh dừng lại, vào nhà hỏi mua gỗ của anh Long. Tuy nhiên nhà anh Long không có gỗ để bán, sau đó Khánh được anh Long giới thiệu đến nhà anh Phạm Bá Diện gần nhà anh Long để mua. Khánh điều khiển xe đến nhà anh Diện, khi Khánh đến nhà anh Diện thì không có ai ở nhà. Khánh dựng xe máy trước cửa nhà đi vào bếp nhà anh Diện. Khi Khánh vào bếp nhà anh Diện thì thấy 01 (một) chiếc cưa máy đang để ở góc bếp. Vì nhà không có ai nên Khánh đã nảy sinh ý định trộm lấy chiếc cưa máy. Khánh lấy chiếc cưa máy mang ra ngoài xe trở về nhà ở khu 3, thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa để cất dấu. Đến khoảng 15h00 cùng ngày, Khánh đi bộ từ nhà đến xưởng gỗ nhà ông Trần Ngọc Lâm, sinh năm 1979, trú tại Khu 3, TT Hồi Xuân, huyện Quan Hóa để chào bán cho ông Lâm chiếc cưa máy mà Khánh ăn trộm được nhưng ông Lâm đã không mua, sau đó Khánh trở về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày có anh Vi Văn Thiệp là người làm cùng xưởng gỗ với ông Lâm đến nhà Khánh để hỏi mua chiếc cưa máy với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Tuy nhiên anh Thiệp không mang theo tiền nên Khánh không đồng ý bán, sau đó anh Thiệp đi khoảng 10 phút rồi quay lại đưa 1.000.000đ (một triệu đồng) cho Khánh và lấy cưa máy đi. Đến ngày 11/5/2020 Công an thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa triệu tập Hà Văn Khánh để làm việc và Khánh đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình và tự nguyện giao nộp số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) là số tiền bán chiếc cưa máy cho anh Thiệp.

Về vật chứng vụ án gồm:

- 01 (một) cưa máy mày da cam, nhãn hiệu SPADA trong quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Phạm Bá Diện bị Nguyễn Văn Khánh lấy trộm, vì vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Hóa đã trả lại cho anh Diện.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu PIAGIO, loại xe LIBERTY mang BKS 36B1-175.04. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe do mẹ đẻ chị Hà Thị Liên cho riêng chị Liên sử dụng, thuộc quyền sở hữu riêng của chị Hà Thị Liên (vợ của Khánh); chị Liên không biết việc Khánh lấy xe máy của chị sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho Hà Thị Liên.

Về phần dân sự: Bị hại Phạm Bá Diện không yêu cầu Nguyễn Văn Khánh bồi thường ; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Vi Văn Thiệp đã được nhận lại số tiền 1.000.000 đồng dùng để mua chiếc cưa máy với Khánh và không có yêu cầu về dân sự

Tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về Kết luận định giá.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSQH ngày 07 tháng 8 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn Khánh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Khánh phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 BLHS 2015

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Khánh từ 06 đến tháng 09 tháng tù; nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Ngoài ra, Đại diện Viện Kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết những vấn đề khác trong vụ án như xử lý án phí.

Ý kiến của bị hại Phạm Bá Diện: đã nhận lại tài sản 01 chiếc máy cưa, không yêu cầu bồi thường dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vi Văn Thiệp: đã nhận lại số tiền 1.000.000đ ( Một triệu đồng) để mua máy cưa. Không yêu cầu bồi thường dân sự.

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; báo cáo của bị hại, Kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 cưa máy nhãn hiệu SPADAvới giá trị tài sản là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; gây hoang mang, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt chính: Từ những căn cứ nêu trên, cần áp dụng quy định tại khoản 1, Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015; xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương để bị cáo rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn do đó không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự:

Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : không đề nghị phần bồi thường nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên: Bị cáo Nguyễn Văn Khánh phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2. Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Văn Khánh 08(Tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Khánh phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, người có QLNV liên quan Hà Thị Liên. Vắng mặt bị bị hại, người có QLNV liên quan Vi Văn Thiệp. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án, người có QLNV liên quan Hà Thị Liên có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vi Văn Thiệp có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án./

Cỡ chữ