vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 04/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo LVK phạm tội “Hủy hoại tài sản”

Xử phạt LVK 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách18 (mười tám) tháng.Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 04/6/2020. Giao bị cáo LVK cho UBND xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình LVK có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an L V K 178 - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo LVK phạm tội “Hủy hoại tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA
_______

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày 04 - 6- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Hà Minh Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Mầng và bà QuàngThị Hỏa.

Thư ký Tòa án: Ông Đào Ngọc Sơn – Thư ký ghi biên bản phiên tòa Tòa án nhân dân huyện ML.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/ 2020/TLST - HS ngày 13 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo.

Họ và tên: LVK, sinh năm 1993, tại xã CL, huyện ML. Nơi ĐKNKTT: Bản Nà L, xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông L V Ha, sinh năm 1969 và bà L T E, sinh năm 1970, vợ là L T H, sinh năm 1995, bị cáo có 01 con, sinh năm 2016. Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người làm bị hại:

Ông LVX, sinh năm 1972. Địa chỉ: Bản Nà L, xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 08/02/2020 LVK đang ở nhà tại bản Nà L, xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La thì thấy 03 con bò đi vào vườn cây của gia đình nên K đã

1

ra đuổi đàn bò khoảng 3 lần nhưng sau đó đàn bò vẫn tiếp tục quay lại. Lần thứ 4, thấy đàn bò quay lại, K cầm trên tay phải 01 con dao nhọn bằng kim loại có chiều dài 45 cm, lưỡi dao dài 29 cm, cán dao dài 16 cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 05 cm theo mục đích sau khi đuổi bò xong sẽ quay lại để sửa hàng rào. Trong quá trình đuổi theo đàn bò, do cảm thấy bực tức vì đàn bò vào phá hoại vườn cây nhiều lần, sẵn có dao nhọn trong tay K dùng tay phải cầm dao phi về hướng đàn bò và trúng vào phần bụng 01 con bò đang đứng ở giữa, khiến đàn bò bỏ chạy xuống đường dân sinh trong bản, K đuổi theo mục đích đuổi đàn bò ra khỏi vườn cây và lấy lại dao đang cắm trên bụng con bò, K đuổi được khoảng 200 mét thì thấy con bò bị dao cắm vào bụng ngã khuỵu xuống đất và không di chuyển được nữa, do sợ bị người khác phát hiện nên K bỏ về nhà. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày gia đình ông LVX phát hiện con bò nhà mình bị người khác gây thương tích nên đã đến nhà K hỏi thì K thừa nhận đã dùng dao phi làm chết bò của gia đình Sinh.

Vật chứng vụ án:

- 01 con bò cái, lông màu vàng, khoảng 09 tháng tuổi, trọng lượng khoảng 77,5kg, bị đâm chết.

- 01 con dao nhọn bằng kim loại có chiều dài 45 cm, lưỡi dao dài 29 cm, cán dao dài 16 cam, lưỡi dao chỗ rộng nhất 05 cm.

Ngày 08/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định số 12 giám định nguyên nhân chết và cơ chế hình thành vết thương của con bò. Cùng ngày, Tổ giám định tư pháp lĩnh vực nông nghiệp Chi cục chăn nuôi thú y và thủy sản tỉnh Sơn La tiến hành về mổ khám và kết luận nguyên nhân chết của con bò là do 02 vết thương nằm dưới hông bên phải và cạnh rốn gây mất nhiều máu, thủng dạ lá sách, tràn chất chứa dạ lá sách, máu ra xoang bụng.

Ngày 18/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML đã Yêu cầu định giá tài sản số 08 đối với 01 con bò giống cái, khoảng 09 tháng tuổi, lông màu vàng có trọng lượng 77,5 kg (cân hơi).

Tại Kết luận định giá số 05 ngày 19/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện ML kết luận: Giá trị thực tế của 01 con bò, giống cái, khoảng 09 tháng tuổi, lông màu vằng có trọng lượng 77,5 kg cân hơi là tài sản cần định giá tại thời điểm Tháng 02/2020 là: 9.600.000 đồng

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT- VKS-ML ngày 12/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo LVK về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

2

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVK đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt LVK từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao nhọn bằng kim loại có chiều dài 45 cm, lưỡi dao dài 29 cm, cán dao dài 16 cam, lưỡi dao chỗ rộng nhất 05 cm.

Về trách nhiệm bồi thương dân sự: Chấp nhận việc bị cáo LVK đã bồi thường cho người bị hại số tiền bồi thường 7.500.000 đồng và người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ hinh pha ̣. t

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận vào khoảng 09 giờ ngày 08/02/2020 bị cáo LVK có hành vi dùng tay phải cầm dao phi về hướng đàn bò và trúng vào phần bụng 01 con bò, giống cái, khoảng 09 tháng tuổi, lông màu vằng có trọng lượng 77,5 kg cân hơi, có trị là: 9.600.000 đồng dẫn đến con bò chết.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản lời khai, vật chứng thu giữ và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo LVK đã có hành vi cố ý phi con dao nhọn về phía con bò dẫn đến con bò chết, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3

Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện ML đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi cố ý phi con dao nhọn về phía con bò, hành vi đó có thể thấy trước được hậu quả là khiến con bò bị thương hoặc bị chết, nhưng bị cáo vẫn cố cố tình thực hiện, gây tổn thất về vật chất đối với chủ sở hữu. Tuy nhiên, xét về tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi pham tội bị cáo và gia đình bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả bồi thường cho người bị hại. Việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết, áp dụng biện pháp cải tạo tại địa phương cũng đảo bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hơp ít nghiêm trọng, bị cáo được gia đình và người bị hại bảo lãnh xin cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị. Xét thấy, bị cáo không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

01 con dao nhọn bằng kim loại có chiều dài 45 cm, lưỡi dao dài 29 cm, cán dao dài 16 cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 05 cm. Là vật bị cáo dùng trực tiếp vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường số tiền 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) cho gia đình bị hại LVX. Bị hại LVX có đơn xin được xét xử vắng mặt trong đơn ông không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Tài liệu có trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn nhưng bị cáo không xin miên tiền án phí hình sự sơ thẩm. Nên áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo LVK phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự; điểm b,i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo LVK phạm tội “Hủy hoại tài sản”

Xử phạt LVK 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách18 (mười tám) tháng.Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 04/6/2020.

Giao bị cáo LVK cho UBND xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình LVK có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục LVK.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự năm 2019, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án:

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao nhọn bằng kim loại có chiều dài 45 cm, lưỡi dao dài 29 cm, cán dao dài 16 cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 05 cm

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2020 giữa Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML).

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo LVK phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 04/6/2020.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết

5

Cỡ chữ