vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh B 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04-3-2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Minh C - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày: 04-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ninh.

2. Bà Nguyễn Thị Thiểu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá Xanh – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh B, tên gọi khác: không có, sinh năm 1993, tại huyện D, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ô1/115C, khu phố T1, thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Bằng (đã chết) và bà Nguyễn Đặng Tuyết Hồng, sinh năm 1970; vợ: Phạm Thị Thúy Hằng, sinh năm 1996; con: không có; tiền án: không có; tiền sự: Quyết định số 32 ngày 10-7-2018 của Tòa án nhân dân huyện D áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 04-3-2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người bị hại: Anh Vương Thanh T2, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố Thanh Bình A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Quốc N, sinh năm 1989; địa chỉ: khu phố Nội Ô A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Minh B là người nghiện ma túy và thường xuyên qua Campuchia đánh bạc. Khoảng 11 giờ ngày 28-12-2019, bị cáo về nhà thấy xe của anh Vương Thanh T2– là người làm thuê cho gia đình bị cáo, xe hiệu Sirius, biển số 70F1- 254.85 đang dựng gần đó nên bị cáo B nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh Tuấn. Bị cáo giả vờ mượn xe của anh T2đi mua đồ thì anh T2đồng ý, B điều khiển xe sang Campuchia, cầm cố xe của anh T2được số tiền 8.000.000 đồng rồi vào Casino đánh bạc thua hết.

Ngày 31-12-2019, bị cáo không trả lại xe nên anh T2đến Công an tố cáo hành vi của bị cáo. Ngày 04-01-2020, anh Phan Quốc N là anh của B, sang Campuchia chuộc lại xe trả cho anh Tuấn.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 22-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 70F1-254.85 có trị giá 8.500.000 đồng.

Kết quả thu giữ, xử lý vật chứng: Ghi nhận anh Vương Thanh T2đã nhận lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 70F1-254.85.

Về kê biên tài sản: Bị cáo không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Tây Ninh không kê biên.

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSGD ngày 20-3-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh B từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ghi nhận anh Vương Thanh T2đã nhận lại tài sản.

Ghi nhận anh Phan Quốc N không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Minh B là người nghiện ma túy và thường xuyên qua Campuchia đánh bạc, do muốn có tiền đi đánh bạc, ngày 28-12-2019, bị cáo đã có hành vi gian dối chiếm đoạt xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 70F1 – 254.85 của anh Vương Thanh Tuấn, bị cáo chạy xe sang Campuchia cầm cố được 8.000.000 đồng đi đánh bạc. Do đó, hành vi của bị cáo xét thấy có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc mới đủ sức răn đe và tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 32 ngày 10-7-2018 của Tòa án nhân dân huyện D, đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp:

Ghi nhận anh Vương Thanh T2đã nhận lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 70F1-254.85.

Ghi nhận anh Phan Quốc N không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh B 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04-3-2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Ghi nhận anh Vương Thanh T2đã nhận lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 70F1-254.85.

Ghi nhận anh Phan Quốc N không yêu cầu bị cáo bồi thường.

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Minh B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã/phường địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ