vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum Tuyên án 14/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo A phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo A T: 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu thập cho bị cáo. Giao bị cáo A T cho Ủy ban nhân dân xã Ngọc Wa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo A phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày: 14-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KONTUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang và Bà Tạ Thị Thúy Mơ

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu - Thư ký tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tham gia phiên tòa: Ông Khuất Thế Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 14/12/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2020/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

A T; Sinh ngày: 01/6/1994 tại tỉnh Kon Tum.

Nơi cư trú: Thôn Kon Stiu II, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sơ Drá; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông A Wel (Đã chết) và bà Y Băng, sinh năm 1953; Bị cáo có vợ tên: Y Gươm; sinh năm: 1999; có một con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Hà Văn Í; Sinh năm: 1974; Trú tại: Thôn Kon Stiu II, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

Người làm chứng:

- Chị Y G; sinh năm: 1999; Trú tại: Thôn Kon Stiu II, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt

- Chị Y H; sinh năm: 1986; Trú tại: Thôn Kon Gu I, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt

- Anh A Kh; sinh năm: 1986; Trú tại: Thôn Kon Stiu II, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 23/7/2020, A T đang nằm ngủ tại nhà thì A Kh gọi dậy và nói có ba con bò đang ăn lúa trên ruộng lúa phía sau nhà A T. Nghe A Kh nói vậy, A T cầm khẩu súng tự chế, loại bắn tên chạy xuống ruộng lúa của nhà A Toàn, lúc này có Y G chạy theo sau A T. Khi đến ruộng lúa thì A T nhìn thấy có ba con bò đang ăn lúa nên Toàn cầm súng bắn trúng một con bò màu nâu vàng, khoảng 7 tháng tuổi của gia đình anh Hà Văn Í. Sau đó, cả ba con bò bỏ chạy thì A T lội xuống ruộng và nhặt mũi tên bằng tre bị gãy rồi bỏ về nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, anh Í phát hiện con bò cái lai, màu nâu vàng, khoảng 7 tháng tuổi của gia đình nằm chết trên bãi cỏ ở khu vực phía sau nhà anh Í. Kiểm tra con bò thì anh Í phát hiện phần mũi tên bằng kim loại găm vào vùng nách bên trái gần chân trước con bò. Ngày 27/7/2020, ông Í trình báo lên cơ quan Công an xã Ngọk Wang.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 74/KL – ĐGTS ngày04/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Hà kết luận: 01 (Một) con bò cái lai (bê con), nặng 70kg, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm ngàn đồng). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận định giá tài sản này.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSĐH ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đã truy tố bị cáo A T Truy tố về tội: “Hủy hoại tài sản”; Theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi hủy hoại tài sản như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị hại đã nhận được tiền bồi thường của bị cáo, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và có đơn bãi nại, đơn xin giảm và miễn hình phạt đối với bị cáo A T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử.

Tuyên xử bị cáo A T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo A Toàn mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được số tiền bồi thường từ bị cáo, và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo A T và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo tại phiên tòa không có tranh luận đối đáp gì. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết sai rồi, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Vì đàn bò nhà anh Hà Văn Í nhiều lần vào ruộng lúa của gia đình bị cáo A T, nên vào khoảng 15 giờ ngày 23/7/2002, sau khi nghe A Kh nói có ba con bò đang ăn lúa trên ruộng thì A T đã sử dụng súng tự chế bắt chết một con bò cái lai, màu vàng nâu, khoảng 7 tháng tuổi của gia đình anh Hà Văn Í. Giá trị con bà mà bị cáo A T đã bắn chết là 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm ngàn đồng). Vì vậy hành vi của bị cáo A T đã phạm tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến đến quyền sở hữu của công dân về mặt tài sản, gây dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, cũng nhận thấy người bị hại là anh Hà Văn Í cũng có một phần lỗi khi không quản lý tốt tài sản của mình mà để đàn bò nhiều lần ăn lúa của gia đình bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Nhận thấy, trước khi phạm tội, bị cáo A T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo A T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Hà Văn Ít số tiền 500.000 đ (năm trăm ngàn đồng), hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần cho bị cáo được hưởng. Ngoài ra, nhận thấy người bị hại cũng có một phần lỗi, đã viết đơn bãi nại, đơn xin giảm và miễn hình phạt cho bị cáo A T nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo mức án cải tạo không giam giữ cũng để răn đe đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình hộ cận nghèo nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về vật chứng:

- Một khẩu súng bắn tên tự chế bằng gỗ gài 106cm. Phầu đầu súng có 02 dây cao su màu xanh, mỗi day dài 12cm và một ống kim loại màu đỏ dài 03cm, đường kính 1,5cm được buộc cố định vào thân khẩu súng bằng dây cao su màu đen; đầu còn lại của hai dây cao su màu xanh được buộc cố định vào thanh kim loại được uốn cong. Phần cò súng được làm bằng gỗ, màu đen dài 16cm, được buộc cố định vào thân khẩu súng bằng dây cao su màu đen; Một mũi tên bằng tre dài 70cm, hình trụ tròn, đường kinh 0,5cm; Một đầu mũi tên được làm từ hai thanh kim loại, mỗi thanh dài 23cm, đường kính 0,2cm, một đầu sắc nhọn có ngạnh, một đầu được buộc cố định vào đoạn tre dài 03cm tạo thành hình chữ V bằng dây cao su màu đen. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Hà Văn Í số tiền bồi thường 500.000 đ (năm trăm ngàn đồng); bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng không xem xét là phù hợp.

Về án phí: Xét thấy, bị cáo A T là đồng bào dân tộc thiểu số, là thành viên trong gia đình được cấp giấy chứng nhận hộ cận nghèo nên miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố : Bị cáo A phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 178, các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo A T: 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu thập cho bị cáo.

Giao bị cáo A T cho Ủy ban nhân dân xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo A Toàn có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Ngọc Wang trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) khẩu súng bắn tên tự chế bằng gỗ gài 106cm. Phầu đầu súng có 02 dây cao su màu xanh, mỗi day dài 12cm và một ống kim loại màu đỏ dài 03cm, đường kính 1,5cm được buộc cố định vào thân khẩu súng bằng dây cao su màu đen; đầu còn lại của hai dây cao su màu xanh được buộc cố định vào thanh kim loại được uốn cong. Phần cò súng được làm bằng gỗ, màu đen dài 16cm, được buộc cố định vào thân khẩu súng bằng dây cao su màu đen; 01 (Một) mũi tên bằng tre dài 70cm, hình trụ tròn, đường kinh 0,5cm; 01 (Một) đầu mũi tên được làm từ hai thanh kim loại, mỗi thanh dài 23cm, đường kính 0,2cm, một đầu sắc nhọn có ngạnh, một đầu được buộc cố định vào đoạn tre dài 03cm tạo thành hình chữ V bằng dây cao su màu đen.

(Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 26 tháng 11 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà được ban hành kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số: 21/QĐ-VKS ngày 24/11/2020 của VKSND huyện Đăk Hà).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (14/12/2020) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ