- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Duy V, Lê Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Duy V, Lê Tấn T phạm tội Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2020/HS-ST Ngày 22-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quốc Thìn.
2. Ông Nguyễn Văn Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Duy, Th
T a án nh n d n huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, t nh u ng g i tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát V.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại tr s T a án nh n dân huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i xét xử sơ thẩm công hai v án hình sự sơ thẩm th l số: 37/2020/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đ a v án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Lê Duy V, sinh ngày 15/7/1986; nơi c tr : Thôn T, x B, huyện S, t nh Quảng Ng i; nghề nghiệp: Công nh n; quốc tịch: Việt Nam; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Tấn S và bà Nguyễn Thị H (chết); có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi c tr ; có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Tấn T, sinh ngày 30/9/1982; nơi c tr : Thôn T, x B, huyện S, t nh Quảng Ng i; nghề nghiệp: Công nh n; quốc tịch: Việt Nam; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lê Tấn X và bà Phạm Thị H; có vợ là Lê Thị Thanh N, sinh năm 1984 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi c tr ; có mặt tại phiên t a.
Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khí công nghiệp Đ (sau đ y viết tắt là Công ty Đ); tr s : C m Công nghiệp N, thôn K, x Ng, huyện T, Thành phố Hà Nội; ng ời đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1985, địa ch : Thôn V, x B, huyện S, t nh Quảng Ng i; có mặt.
N i c
n i n h a iên an:
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khí công nghiệp T (sau đ y viết tắt là Công ty T), tr s : Lô L4 Ph n hu Công nghiệp S, x B, huyện S, t nh Quảng Ng i; ng ời đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ph V, sinh năm 1981, địa ch : X B, huyện S, t nh Quảng Ng i; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1992; địa ch : Thôn X, x T, huyện H, t nh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án đ ợc tóm tắt nh sau:
Ngày 13/01/2020, Lê Tấn T điều hiển xe ô tô tải biển iểm soát 76C-112.XX cùng với Lê Duy V (T và V đều là nhân V giao hàng của Công ty T) đi giao bình hí công nghiệp cho các nhà thầu công tr ờng Nhà máy thép Hòa Phát - Dung Quất thuộc thôn T, x B, huyện T, t nh Quảng Ng i theo hợp đồng đ
ết giữa Công ty T và Công ty Đ. Sau khi giao hàng, T và V thu hồi lại đ ợc 43 bình khí đ sử d ng hết; đến hoảng 09 giờ cùng ngày, trên đ ờng ch số bình khí nêu trên thì V thấy trong nhà ho của nhà thầu Cự Lực trong công tr ờng nhà máy thép H a Phát - Dung Quất có 06 (sáu) bình khí công nghiệp của Công ty Đ hông có ng ời trông coi nên rủ T lấy trộm số bình nêu trên để bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý, V xuống nhặt h n đá đập vào ổ hóa nhà ho nh ng hông đ ợc nên dùng nắp ch p bình hí bằng im loại nhặt đ ợc gần cửa ho tiếp t c đập ổ khóa, sau đó T đập ổ hóa bung ra rồi cả hai cùng đ a 06 bình khí công nghiệp lên xe tải thì bị bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm 06 (sáu) bình chứa hí công nghiệp loại 40 lít, chiều cao 1,4m, đ ờng kính 22 cm, vỏ bằng im loại đ ợc sơn màu xanh, bao gồm: 02 bình chứa hí CO2 m số 234644 và m số 233795, 02 bình chứa khí O2 m số 227307, m số G610112 (ch a sử d ng); 01 bình chứa hí O2 m số G612106 và 01 bình chứa hí CO2 m số 227193 (đ sử d ng hết); 01 nắp đậy bình hí bằng im loại màu xanh.
Ngày 16/01/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Bình Sơn đ định giá và ết luận 06 bình khí công nghiệp nêu trên trị giá 5.090.000 đồng (năm triệu hông trăm chín m ơi nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 30/CT-VKS, ngày 10/6/2020 của Viện iểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ng i truy tố các bị cáo Lê Duy V, Lê Tấn T về tội Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bình Sơn giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản” và áp d ng hoản 1 Điều 173, điểm i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V từ 09 đến 12 tháng tù, bị cáo T từ 06 đến 09 tháng nh ng cho các bị cáo h ng án treo; về d n sự: Bị hại hông có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử hông xem xét; về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 (một) nắp đậy bình hí bằng im loại màu xanh.
Tại phiên t a, các bị cáo đều thừa nhận cáo trạng truy tố các bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đ ng ng ời, đ ng tội, hông oan và hông tranh luận với đại diện Viện iểm sát, ch đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo h ng mức án thấp nhất; đại diện hợp pháp của bị hại hông có tranh luận, ch xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và hông có yêu cầu gì hác về d n sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đ đ ợc tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra V, Viện iểm sát, Kiểm sát V trong quá trình điều tra, truy tố đ đ ợc thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Các bị cáo hông có iến hiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, ng ời tiến hành tố t ng nên các hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng, ng ời tiến hành tố t ng đ thực hiện trong v án là hợp pháp.
Tại phiên t a, các bị cáo Lê Duy V, Lê Tấn T khai nhận hành vi phạm tội nh mô tả trong cáo trạng đ truy tố, phù hợp với lời hai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời hai những ng ời tham gia tố t ng hác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án nên có đủ cơ s ết luận: Ngày 13/01/2020, các bị cáo đ có hành vi lén l t chiếm đoạt 06 (sáu) bình chứa hí công nghiệp của Công ty Đ, trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 5.090.000 đồng (năm triệu hông trăm chín m ơi nghìn đồng) nên đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản” quy định tại hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tr ờng hợp đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó vai tr của bị cáo V là ng ời h i x ớng việc phạm tội và cùng với bị cáo T trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, do đó mức độ tham gia, hành vi phạm tội của bị cáo V có tính nguy hiểm cao hơn so với bị cáo T nên cần có sự ph n hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành hẩn hai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T đ hoàn thành nghĩa v qu n sự nên các bị cáo đ ợc h ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo có nh n th n tốt, có nơi c tr rõ ràng, có hả năng tự cải tạo, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nh đ nhận định tại m c [4] nêu trên, việc cho các bị cáo h ng án treo hông g y nguy hiểm cho x hội, hông ảnh h ng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn x hội nên các bị cáo có đủ điều iện đ ợc h ng án treo và không thuộc một trong các tr ờng hợp hông cho h ng án theo quy định tại các Điều 2, Điều 3 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n tối cao h ớng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Hội đồng xét xử xét thấy hông cần phải bắt các bị cáo chấp hình phạt tù tại cơ s giam giữ mà ch cần cho các bị cáo đ ợc h ng án treo và giao cho chính quyền địa ph ơng nơi các bị cáo c tr để giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo d c các bị cáo tr thành ng ời có ích cho x hội, có thức tu n thủ pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới, đồng thời giáo d c ng ời hác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và ph ng chống tội phạm.
Về vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đ trả lại cho Công ty T xe ô tô tải biển iểm soát 76C-112.XX và 43 (bốn m ơi ba) bình hí công nghiệp; trả lại 06 (sáu) bình khí công nghiệp bị chiếm đoạt cho Công ty Đ là có căn cứ, đ ng quy định của pháp luật.
01 (một) nắp đậy bình hí bằng im loại màu xanh là công c các bị cáo sử d ng để thực hiện hành vi phạm tội, hông có giá trị sử d ng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự.
Về trách nhiệm d n sự:
Bị hại là Công ty Đ đ nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì hác về phần d n sự; ổ hóa (bị các bị cáo đập để m cửa nhà kho) thuộc s hữu của Bà Phạm Thị Th, trong quá trình điều tra bà Th trình bày ổ hóa hông bị h hỏng, hông có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bình Sơn về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và đề nghị về d n sự, xử l vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đ ợc chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Duy V, Lê Tấn T phạm tội Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ hoản 1 Điều 173, các điểm i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, các Điều 58, 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Lê Duy V 12 (m ời hai) tháng tù nh ng cho h ng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai m ơi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn T 09 (chín) tháng tù nh ng cho h ng án treo; thời gian thử thách là 18 (m ời tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Giao các bị cáo Lê Duy V, Lê Tấn T cho Ủy ban nh n d n x B, huyện S, t nh Quảng Ng i giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách.
Tr ờng hợp các bị cáo thay đổi nơi c tr thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ng ời đ ợc h ng án treo cố vi phạm nghĩa v 02 lần tr lên thì T a án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho h ng án treo.
4. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nắp đậy bình hí bằng im loại màu xanh (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/7/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn và Chi c c Thi hành án d n sự huyện Bình Sơn).
5. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án,
Buộc các bị cáo Lê Duy V, Lê Tấn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Các bị cáo và bị hại có mặt tại phiên t a có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án; ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên t a có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận đ ợc hoặc niêm yết bản án. ơi nhận:
| - TAND t nh Quảng Ng i; - VKSND t nh Quảng Ng i; - VKSND huyện Bình Sơn; - CQCSĐT và Bộ phận HSNV Công an huyện Bình Sơn; - CCTHADS huyện Bình Sơn; - S T pháp t nh Quảng Ng i; - UBND x Bình Thạnh; - Những ng ời tham gia tố t ng; - L u hồ sơ v án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đ ) Nguyễn Văn Đô |