vanban.org

Bản án 25/2020/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Thảo L được ly hôn với ông Nguyễn Phát T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VỤ ÁN"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CR
THÀNH PHỐ CT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HNST.
Ngày: 16/7/2020
Về tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CR

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Hưng.

Ông Nguyễn Văn Mến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận CR: Ông Lê Văn Quốc – kiểm sát viên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương – Thư ký Tòa án nhân dân quận CR, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận CR xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2020/TLST- HN, ngày 09 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXX-ST, ngày 01 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2020/QĐST – HN ngày 16/6/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tô Thị Thảo L (Nị), sinh năm: 1994.

Địa chỉ: Số 205/21, đường Tết MT, khu phố 5, phường 4, thành phố MT, tỉnh TG. Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Phát T, sinh năm: 1993.

Địa chỉ: Số 094B, khu vực YH, phường TT, quận CR, TPCT. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn bà Tô Thị Thảo L trình bày và yêu cầu: Bà và ông Tài chung sống từ năm 2016 có đăng ký kết hôn tại UBND phường TT, quận CR, TPCT, hôn nhân là tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng từ khi sinh đứa con đầu lòng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn và cũng không quan tâm đến vợ con, cuộc sống khó khăn mà ông T còn vô cảm không chịu lo kiếm việc làm để nuôi con chung, mặc dù bà đã nhiều lần khuyên ông T đi tìm việc làm mà ông Tài vẫn không đi làm mà vợ chồng còn thường xuyên cự cải dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt và chồng đã bỏ mẹ con bà ở lại TG để về CT sinh sống cho đến nay không liên lạc thăm hỏi và cũng không quan tâm mẹ con bà, mặc dù bà có liên lạc nhưng chồng bà vẫn bỏ mặc mẹ con bà tự lo cuộc sống. Nay bà nhận thấy đã không còn tình cảm với ông Nguyễn Phát T nên xin được ly hôn.

Về con chung: Có 01 cháu tên là Nguyễn Tài N (nam), sinh ngày 20/9/2018 hiện vẫn đang sống chung với bà. Do đó, bà xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không đặt vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có.

* Về phía bị đơn: Từ khi vụ án được thụ lý cho đến giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mà bị đơn vẫn vắng mặt không lý do và không có bất kỳ văn bản nào cho biết ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Do không thể tiến hành hòa giải nên vụ án được đưa ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

* Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Phía bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt và không có ý kiến gì, mặc dù Tòa án đã thông báo cho bị đơn biết ngày xét xử và có yêu cầu bị đơn cho biết ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Tòa án xem xét, giải quyết nhưng bị đơn vẫn vắng mặt là cố tình nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

* Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Việc thụ lý vụ án của tòa án là đúng thẩm quyền, về tư cách tham gia tố tụng, việc hòa giải, việc xét xử vắng mặt đương sự và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng trình tự luật định. Về nội dung vụ án thì nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra lại tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn, bị đơn chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Nay nguyên đơn có yêu cầu ly hôn với bị đơn thì đây là loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận CR, TPCT theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải và công bố chứng cứ. Bị đơn vắng mặt không lý do. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ theo quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào cho biết ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp và căn cứ khởi kiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Giữa nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2016 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm đã không còn. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn kiên quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng và không thể hàn gắn để đoàn tụ lại được nên bà vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Tuy đây chỉ là lời khai của nguyên đơn nhưng Tòa án cũng có tiến hành các thủ tục xác minh thì được biết bị đơn hiện đang sinh sống tại nhà số 094B, khu vực YH, phường TT, quận CR, TPCT. Do đó, Tòa án có gửi thông báo thụ lý vụ án ly hôn này cho bị đơn biết và yêu cầu bị đơn có ý kiến, đồng thời Tòa án cũng tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt và không có bất kỳ văn bản ý kiến nào đối với yêu cầu ly hôn này, cũng không thể hiện được thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng và muốn đoàn tụ lại. Từ đó, cho thấy bị đơn đã không còn tha thiết, mong muốn hàn gắn mối quan hệ này với nguyên đơn nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để được chấp nhận. Đồng thời, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận CR cũng cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét thấy, mẫu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và bà L vẫn kiên quyết ly hôn nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Tô Thị Thảo L được ly hôn ông Nguyễn Phát T.

Về con chung: Có 01 cháu tên là Nguyễn Tài N (nam), sinh ngày 20/9/2018 hiện vẫn đang sống chung với bà nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Xét thấy, yêu cầu của bà là có cơ sở để được Hội đồng xét xử chấp nhận vì con dưới 36 tháng tuổi phải để mẹ được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Do bà không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì sẽ giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

- Về án phí: Nguyên đơn chịu 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển 300.000đồng tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai số 005832 ngày 06/01/2020 tại Cục Thi hành án dân sự quận CR thành án phí.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc đã thực hiện thủ tục niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các điều 28; 35; 39; 147; 227, 228; 266; 271; 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Thảo L được ly hôn với ông Nguyễn Phát T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tài N (nam), sinh ngày 20/9/2018 cho bà Tô Thị Thảo L được tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt vấn đề cấp dưỡng.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T, không ai được quyền cản trở theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì sẽ giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Nguyên đơn chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển 300.000đồng tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai số 005832 ngày 06/01/2020 tại Cục Thi hành án dân sự quận CR thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc đã thực hiện thủ tục niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ