vanban.org

Bản án 25/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thảo Ng.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thảo Ng được ly hôn với ông Huỳnh Văn Qu. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Thảo S, sinh ngày 20-11-2014 và cháu Dương Bảo N, sinh ngày 06-7-2016 cho bà Dương Thị Thảo Ng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Thảo Ng - Huỳnh Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thảo Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HNGĐ-ST
Ngày 08-6-2020
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung

Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Liên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 573/2020/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Ng đơn: Bà Dương Thị Thảo Ng, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, khu phố X, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Qu, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, khu phố X, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa Ng đơn bà Dương Thị Thảo Ng trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ng và ông Huỳnh Văn Qu tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2014 và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hắc Dịch, huyện Tân Thành (nay là phường Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà Ng chung sống với nhau hạnh phúc cho đến đầu năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn. Ng nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau, từ đó làm cho cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Mặc dù vợ chồng bà Ng đã tìm nhiều biện pháp để khắc phục nhưng vẫn không hàn gắn được. Từ tháng 10 năm 2018 đến nay bà Ng và ông Qu đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau.

Nay bà Ng xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Qu nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Ng được ly hôn với ông Qu.

- Về con chung: Bà Ng và ông Qu có 02 con chung là các cháu Huỳnh Thị Thảo S, sinh ngày 20-11-2014 và Dương Bảo N, sinh ngày 06-7-2016. Khi ly hôn bà Ng yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và tạm thời không yêu cầu ông Qu phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ng không yêu cầu giải quyết

* Bị đơn ông Huỳnh Văn Qu vắng mặt:

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Ng đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Ng, ông Qu là có thật và không thể hàn gắn được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ng, cho bà Ng được ly hôn với ông Qu.

Về con chung: Bà Ng, ông Qu có 02 người con chung là cháu Sương và cháu Nam, hiện nay các cháu còn nhỏ và đang được bà Ng chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó cần giao 02 cháu cho bà Ng được quyền nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành là phù hợp và ông Qu tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ng không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ theo nội dung Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của bị đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Huỳnh Văn Qu đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Qu vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Nội dung giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Ng và ông Qu chung sống với nhau từ năm 2014 và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định. Do đó, hôn nhân của bà Ng và ông Qu là hợp pháp.

Theo bà Ng trình bày sau khi kết hôn vợ chồng bà Ng chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Mặc dù về Ng nhân xảy ra mâu thuẫn chỉ là lời khai từ phía bà Ng nhưng trong suốt quá trình tố tụng ông Qu cũng không có ý kiến gì đối với lời khai này. Mặt khác, Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập ông Qu đến làm việc cũng như tạo điều kiện cho các bên hòa giải với mục đích giúp các bên quay về chung sống cùng nhau nhưng ông Qu vẫn vắng mặt. Điều đó thể hiện ông Qu không có thiện chí để hàn gắn cuộc hôn nhân của mình.

Từ căn cứ trên, nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Ng, ông Qu đã đến mức trầm trọng và không thể hàn gắn được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà Ng, cho bà Ng được ly hôn với ông Qu.

Về con chung:

Nhận thấy từ khi bà Ng, ông Qu ly thân thì bà Ng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là các cháu Huỳnh Thị Thảo S và Dương Bảo N. Xét hiện nay các con của bà Ng còn nhỏ, do đó để không làm xáo trộn cuộc sống cũng như gây ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của các cháu thì cần thiết giao cả 02 cháu cho bà Ng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành là phù hợp.

Đối với việc bà Ng tạm thời không yêu cầu ông Qu phải cấp dưỡng nuôi con thì đây là sự tự nguyện của bà Ng nên ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung:

Bà Ng không yêu cầu còn ông Qu không có ý kiến gì nên không giải quyết.

Về án phí: Bà Ng phải chịu 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thảo Ng.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thảo Ng được ly hôn với ông Huỳnh Văn Qu.

- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Thảo S, sinh ngày 20-11-2014 và cháu Dương Bảo N, sinh ngày 06-7-2016 cho bà Dương Thị Thảo Ng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị Thảo Ng về việc tạm thời không yêu cầu ông Huỳnh Văn Qu cấp dưỡng nuôi con.

Ông Huỳnh Văn Qu có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Dương Thị Thảo Ng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Ng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003997ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy, bà Ng đã nộp đủ tiền án phí.

3. Ng đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm (đối với người vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai).

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ