vanban.org

Bản án 25/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đức Q được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc V.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Đức T, sinh ngày 27/11/2012 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, chị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con anh Q và chị V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đức Q được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc V.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HNGĐ-ST
Ngày 22-5-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đình Phùng

Bà Đặng Thị Đôi

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Đức Q, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Đội 5, thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc V, sinh năm 1993. Nơi đăng ký hộ khẩu thường rú: Đội 5, thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: Số nhà 345, ấp A, xã A1, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 16 tháng 01 năm 2020 và các lời khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Hoàng Đức Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh tự nguyện đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc V tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 16/5/2012 (Giấy chứng nhận kết hôn số 54). Tháng 6 năm 2018 anh chị phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, chị V không chung thủy với tình cảm của anh, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả, nên chị V đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ cuối năm 2018 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, anh xin ly hôn chị V.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Hoàng Đức T, sinh ngày 27/11/2012, đang do anh nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T đến khi đủ 18 tuổi; anh không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản khai ngày 14 tháng 02 năm 2020 trình bày thống nhất với anh Q về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 6 năm 2018, do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau trong mối quan hệ bạn bè xã hội, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở tại Số nhà 345, ấp A, xã A1, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ cuối năm 2018 đến nay và sống ly thân từ đó, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Ngày 10/12/2019 chị và anh Q đã thống nhất thỏa thuận với nhau bằng văn bản chọn Tòa án nhân dân huyện K giải quyết vụ án của anh chị theo quy định pháp luật; quá trình giải quyết vụ án, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý ly hôn anh Q.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung như anh Q đã trình bày. Nếu ly hôn, chị đồng ý giao con (cháu T) cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, giữa chị và anh Q sẽ thoả thuận tự giao nhận với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên chị đề nghị Tòa án không T hành hòa giải. Vì vậy Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, anh Q giữ nguyên toàn bộ nội dung yêu cầu nêu trên.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sự vắng mặt của bị đơn (chị V) tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Đức Q; cho anh Hoàng Đức Q được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc V.

- Về con chung: Giao cháu Hoàng Đức T, sinh ngày 27/11/2012 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; anh Q không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Anh Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Q đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Chị V là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt chị V.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Hoàng Đức Q và chị Nguyễn Thị Ngọc V có đăng ký kết hôn từ năm 2012, sinh được 01 con, cùng chung sống tại Đội 5, thôn K1, xã T, huyện K. Quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn, chị V đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở tại Số nhà 345, ấp A, xã A1, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ cuối năm 2018 đến nay. Nay anh Q nộp đơn xin ly hôn chị V tại Tòa án nhân dân huyện K; kèm theo đơn xin ly hôn là các tài liệu, chứng cứ, trong đó có biên bản thỏa thuận giữa anh Q và chị V về việc chọn Tòa án nhân dân huyện K giải quyết vụ án của anh chị theo quy định của pháp luật; căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Q xin ly hôn chị V; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền xã T cung cấp thì hôn nhân của anh Hoàng Đức Q và chị Nguyễn Thị Ngọc V là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ giữa năm 2018, do chị V không chung thuỷ, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2018 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Yêu cầu xin ly hôn của anh Q có cơ sở chấp nhận, nên xử cho anh Q được ly hôn chị V là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như ý kiến của chị V tại bản khai và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là Hoàng Đức T, sinh ngày 27/11/2012, đang do anh Q nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh chị đều có nguyện vọng giao cháu T cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của các đương sự cũng như chính quyền xã T cung cấp thì anh Q làm nghề tự do, thu nhập trung bình 10.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng con. Nguyện vọng của cháu T được ở với anh Q. Do đó cần giao cháu T cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa. Anh Q không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Q không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo của địa phương, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đức Q được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc V.

2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Đức T, sinh ngày 27/11/2012 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Q phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008846 ngày 03 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Anh Q đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ