vanban.org

Bản án 25/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị Bé Th được ly hôn với anh Danh Kh.

Về con chung: Giao cháu Danh Thị Khánh B - sinh ngày 19/10/2015 cho chị Th được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Danh Kh có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị Bé Th -Danh Kh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị Bé Th được ly hôn với anh Danh Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHẬN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 02-6-2020
V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh;

2. Ông Võ Văn Liềm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Cao Thế Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 18/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thị Bé Th - sinh năm 1996 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Danh Kh - sinh năm 1994 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Th1, xã Th2, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 14/02/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Thị Bé Th trình bày: Vào đầu năm 2015, tôi và chồng tôi là anh Danh Kh kết hôn với nhau, có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12/8/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống hạnh phúc khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng tôi nhậu nhẹt, không lo làm ăn, tôi khuyên can thì chồng không nghe mà còn kiếm chuyện với tôi. Từ đó, tính tình hai vợ chồng không còn hợp nhau nên thường xuyên cãi vã. Chúng tôi đã ly thân cách nay khoảng 01 năm. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là anh Danh Kh. Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 01 người con chung tên Danh Thị Khánh B - sinh ngày 19/10/2015, hiện nay con tôi đang sống cùng với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu chồng tôi là anh Danh Kh cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Danh Kh trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Kh nhiều lần nhưng anh vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Tòa án cũng đã tiến hành thông báo tìm kiếm anh Kh trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay anh Kh cũng không có mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có ý kiến: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo tống đạt đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên là tòa không tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho cho chị Thị Bé Th được ly hôn với anh Danh Kh. Về con chung: giao cháu Danh Thị Khánh B - sinh ngày 19/10/2015 cho chị Th được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Thị Bé Th và anh Danh Kh là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Danh Kh được Tòa án thông báo tìm kiếm anh trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi anh có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng anh Kh không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Kh.

Về hôn nhân: Chị Thị Bé Th và anh Danh Kh kết hôn với nhau vào đầu năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn trể hạn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12/8/2015 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 155/2015, quyển số 01/2015. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của chị Th và anh Kh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của chị Th và anh Kh là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị vẫn chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộ ra những cá tính không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cải vã. Chị Th cho rằng anh Kh từ khi có con thì thay đổi tính tình, thường xuyên nhậu nhẹt, không lo làm ăn, chị khuyên can thì chồng không nghe mà còn kiếm chuyện nên tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn. Chị Th và anh Kh đã ly thân được khoảng 01 năm. Ngày 09/4/2020 và ngày 27/4/2020 Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng anh Kh không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh Kh, tại phiên tòa chị Th cương quyết xin ly hôn với anh Kh. Xét thấy vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2019 đến nay nhưng không thể hàn gắn được và tại phiên tòa, chị Th tỏ rõ thái độ không còn yêu thương anh Kh. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th.

Đối với anh Danh Kh, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà anh Kh tống đạt các văn bản đúng theo qui định của pháp luật và thông báo cho anh Kh trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi anh có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng anh Kh không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của anh Kh.

Về con chung: Chị Th xác định chị và anh Kh có 01 con chung tên Danh Thị Khánh B - sinh ngày 19/10/2015. Tại phiên tòa, xét thấy hiện nay cháu Khánh B đang sống với chị Th nên chị cũng có yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con. Mặc khác, từ khi ly thân đến nay chị Th một mình nuôi con phát triển bình thường như những đứa trẻ khác nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Th và giao cháu Khánh B cho chị Th được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

Anh Danh Kh có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th xác định chị và anh Kh không có tài sản chung và không thiếu nợ ai nên chị không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Thị Bé Th phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0008733, ngày 03/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Th đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chị Th tự nguyện chịu nộp và đã nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị Bé Th được ly hôn với anh Danh Kh.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Thị Khánh B - sinh ngày 19/10/2015 cho chị Th được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Danh Kh có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử miễn xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là : 300.000 đồng chị Thị Bé Th phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0008733, ngày 03/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Th đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chị Th tự nguyện chịu nộp và đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 02/6/2020. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ