vanban.org

Bản án 25/2020/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê P T được ly hôn với ông Nguyễn B C. Về con chung: Nguyên đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Thị M H(nữ), sinh ngày 24/9/2004, bị đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị M T(nữ), sinh ngày 20/11/2006. Do đương sự chư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa T và C"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NGÃ BẢY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HN-ST
Ngày: 22/9/2020
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Phương.

2. Ông Lê Văn Tỉnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Huế Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 137/2020/TLST-HN, ngày 27 tháng 7 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXX-ST, ngày 28 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/QĐXX-ST, ngày 10 tháng 9 năm 2020 , giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê P T, sinh năm 1984; (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Sậu Niếu A, xã P H, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn B C, sinh năm 1981; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực 2, phường N B, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê P T trình bày:

Bà và bị đơn kết hôn năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P H, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, mâu thuẫn ngày một trầm trọng dẫn đến nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay nhận thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc hôn nhân không có hạnh phúc nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Nguyễn Thị M H(nữ), sinh ngày 24/9/2004 và Nguyễn Thị M T(nữ), sinh ngày 20/11/2006. Hiện nay 01 con chung Nguyễn Thị M H đang sống chung với nguyên đơn, con chung Nguyễn Thị M Tđang sống chung với bị đơn, nay ly hôn nguyên đơn yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Nguyễn Thị M H(nữ), sinh ngày 24/9/2004, đồng ý để bị đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Thị M T(nữ), sinh ngày 20/11/2006, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn B C vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Việc chấp hành tố tụng của nguyên đơn đúng quy định. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lê P T được ly hôn với ông Nguyễn B C.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Nguyên đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Thị M H(nữ), sinh ngày 24/9/2004, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc giao con chung Nguyễn Thị M T(nữ), sinh ngày 20/11/2006 cho bị đơn nuôi dưỡng. Do đương sự chưa yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Dành quyền thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông C và bà T không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên. Hội đồng xét xử nhận đinh:

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Đối với bị đơn ông Nguyễn B C vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở xác định nguyên đơn bà Lê P T và bị đơn ông Nguyễn B C thực tế sinh sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu câu xin ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử nhận định, hôn nhân của bà T và ông C mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục địch hôn nhân không đạt được đồng thời ly thân từ năm 2017 đến nay, bị đơn trong quá trình giải quyết đã được triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt và không có lời trình bày, cho thấy bị đơn cũng không tha thiết với cuộc hôn nhân này, nên Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 9, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê P T.

Về con chung: Xét 02 con chung là Nguyễn Thị M H(nữ), sinh ngày 24/9/2004 và Nguyễn Thị M T(nữ), sinh ngày 20/11/2006, hiện cháu Nguyễn Thị M Hdo nguyên đơn nuôi dưỡng và cháu Nguyễn Thị M Tdo bị đơn nuôi dưỡng từ khi nguyên đơn và bị đơn ly thân đến nay, cuộc sống của 02 cháu đã ổn định, mặt khác cháu Nguyễn Thị M Hcó nguyện vọng được sống chung với nguyên đơn và cháu Nguyễn Thị M Tcó nguyện vọng được sống chung với bị đơn nên để tránh làm xáo trộn cuộc sống của con chung cần ổn định cuộc sống cho 02 cháu. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc giao con chung Nguyễn Thị M Tcho bị đơn nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc chưa yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà T và ông C không ai được quyền cản trở.

Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê P T được ly hôn với ông Nguyễn B C.

2. Về con chung: Nguyên đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Thị M H(nữ), sinh ngày 24/9/2004, bị đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị M T(nữ), sinh ngày 20/11/2006. Do đương sự chưa yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Dành quyền thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà T và ông C không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê P T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chuyển từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí của bà Lê P T nộp theo biên lai thu số 0004553 ngày 24/7/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đươc niêm yết nơi cư trú.

Cỡ chữ