- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng S - Lê Thị Diễm M"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 25/2020/DS-ST Ngày 16 tháng 7 năm 2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Xuân Phi
Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 201/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: 266-268 N, phường 8, quận 3, TP Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Triệu Kh - Trưởng phòng Kiểm soát rủi ro - Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Sông H; Địa chỉ: Số 240 đường N, thành phố Đà Nẵng; Có mặt. 2. Bị đơn: Bà Lê Thị Diễm M, sinh năm 1991; Địa chỉ: K77/06 đường Ph, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Triệu Kh trình bày: Ngày 20.03.2018, bà Lê Thị Diễm M có ký với ngân hàng TMCP S - Chi nhánh sông H (gọi tắt là ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà M, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền: 200.500.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay bà M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 151.100.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà M vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 01.12.2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16.7.2020 bà Lê Thị Diễm M còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc là 57.169.070 đồng, lãi quá hạn là 42.376.373đ, tổng cộng số tiền là 99.545.443đ. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà M có trách nhiêm thanh toán, tuy nhiên bà M vẫn chưa thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Vì vậy, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Diễm M phải trả dứt điểm số tiền còn nợ là 99.545.443đ, trong đó nợ gốc là 57.169.070đ, lãi là 42.376.373đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện vụ án Dân sự về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng" đối với bà Lê Thị Diễm M, nơi cư trú: K77/06 đường P, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ngày 10.12.2019 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Lê Thị Diễm M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. [2] Về nội dung tranh chấp: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Triệu Kh cho rằng ngày 20.03.2018 ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Sông H đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức tối đa là 50.000.000đ cho bà Lê Thị Diễm M, quá trình giao dich sử dụng thẻ đến ngày 01.12.2018 bà M còn nợ Ngân hàng 57.169.070đ (gốc là 50.000.000đ, lãi là 7.169.070đ). Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên kể từ ngày 01.12.2018 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn nên yêu cầu Tòa án buộc bà M thanh toán tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi là 99.545.443đ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã thể hiện: Ngày 20.03.2018, bà Lê Thị Diễm M có ký với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh sông H Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000đ (với mục đích tiêu dùng cá nhân), lãi suất 2,6%/tháng trên số tiền giao dịch. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 200.500.000đ, bà M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 151.100.000đ. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, ngày 01.12.2018 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp với Điều 2 và Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ của hợp đồng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền gốc là 57.169.070đ và tiền lãi quá hạn kể từ ngày 01.12.2018 đến ngày 16.7.2020 là 42.376.373đ là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự và Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.977.272đ (99.545.443 x 5%), theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án). Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án). Tuyên xử : 1. Buộc bà Lê Thị Diễm M phải có nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng TMCP S số tiền 99.545.443đ (chín mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi lăm ngàn, bốn trăm bốn mươi ba đồng), trong đó, tiền gốc là 57.169.070đ và tiền lãi quá hạn là 42.376.373đ. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Diễm M phải chịu 4.977.272đ (Bốn triệu chín trăm bảy mươi bảy ngàn, hai trăm bảy mươi hai đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 1.930.000đ (Một triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 001535, ngày 06.12.2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. 3. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử sơ thẩm tại nơi cư trú./. 4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câù thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Lưu Hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN HOÀNG VŨ |