vanban.org

Bản án 25/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tăng Thị Kh.

Buộc bị đơn Nguyễn Thành T và Dương Thị Th phải trả cho nguyên đơn Tăng Thị Kh số tiền 331.000.000,đ (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng). Kể từ ngày án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, thì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tăng Thị Khánh/Nguyễn Thành Tự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tăng Thị Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/DS-ST
Ngày: 19/5/2020
V/v Tranh chấp “Hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Hoàng Thị T

Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Phạm Minh T

2. Ông Trần Quý H

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt N - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Th - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 94/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2019, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐST- DS ngày 17 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tăng Thị K, sinh năm 1958

Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn H, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1970

Bà Dương Thị Th, sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Nguyên đơn có mặt tại tòa, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo khởi kiện ngày 20/9/2019 và các lời khai tiếp theo tại tòa, nguyên đơn trình bày:

Vì cần có vốn để làm ăn nên vợ chồng ông T, bà Th có đến gặp bà Kh để vay nhiều lần với tổng số tiền là 331.000.000,đ. Cụ thể: Ngày 06/7/2018 vay số tiền 30.000.000,đ, ngày 07/10/2018 vay số tiền 30.000.000,đ, ngày 16/10/2018 vay số tiền 200.000.000,đ và ngày 24/10/2018 vay số tiền 71.000.000,đ. Khi vay hai bên có thỏa thuận bà Kh cho vợ chồng ông T vay số tiền nói trên, phải trả lãi suất 3%/tháng, trả hàng tháng; thời hạn vay hai bên thỏa thuận khi nào bà Kh có nhu cầu thì ông T, bà Th sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền đã vay. Khi vay ông T bà Th có thỏa thuận thế chấp chiếc xe ô tô tải BKS 77C-143.66 mang tên Nguyễn Duy T cho bà Kh, nhưng sau đó vợ chồng ông T mượn về sử dụng và sau đó bán cho người khác. Sau khi vay tiền đến nay, vợ chồng ông T chỉ thanh toán khoảng 02 tháng tiền lãi và sau đó không trả lãi cho bà Kh nữa, nên bà Kh đã yêu cầu ông T, bà Th phải trả toàn bộ số tiền đã vay và lãi vay, nhưng cho đến nay vợ chồng ông T chỉ hẹn nhưng không trả nên bà Kh làm đơn kiện ra Tòa để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Tại Tòa nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T, bà Th phải trả toàn bộ số tiền đã vay còn nợ là 331.000.000,đ và tự nguyện không yêu cầu phải trả lãi suất chậm trả.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/10/2019, bị đơn Nguyễn Thành T trình bày:

Vì cần có vốn để làm ăn, Ngày 06/7/2018 vợ chồng ông T, bà Th có đến gặp bà Kh để vay số tiền 30.000.000,đ, sau đó trong các ngày 07/10/2018 vay số tiền 30.000.000,đ, ngày 16/10/2018 vay số tiền 200.000.000,đ và ngày 24/10/2018 vay số tiền 71.000.000,đ. Tổng số tiền vợ chồng ông T, bà Th vay của bà Kh là 331.000.000,đ. Khi vay hai bên có thỏa thuận, bà Kh cho vợ chồng ông vay số tiền nói trên và phải trả lãi cho bà Kh với mức 6%/tháng, trả lãi hàng tháng, thời hạn vay hai bên thỏa thuận khi nào bà Kh có yêu cầu thì vợ chồng ông sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền đã vay cho bà Kh; khi vay hai bên có thỏa thuận thế chấp chiếc xe ô tô tải BKS 77C-143.66 mang tên Nguyễn Duy T cho bà Kh, nhưng sau đó vợ chồng ông T, bà Th mượn về để sử dụng hiện chưa giao lại cho bà Kh. Từ ngày vay tiền đến nay vợ chồng ông chỉ thanh toán khoảng 02 - 03 tháng tiền lãi, sau đó do làm ăn thua lỗ nên không có khả năng trả lãi cho bà Kh nữa. Hiện nay vợ chồng ông còn nợ bà Kh số tiền vay gốc 331.000.000,đ. Nay bà Tăng Thị Kh đã khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông phải trả toàn bộ số tiền đã vay còn nợ là 331.000.000,đ. Vợ chồng ông chấp nhận trả khoản nợ trên, nhưng xin trả dần làm nhiều đợt. Tuy nhiên, Tại buổi làm việc, ông T chỉ đưa ra những lời trình bày, những yêu cầu nhưng từ chối ký vào tất cả các biên bản của Tòa án.

- Đại diện VKS phát biểu: Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện cũng như các thủ tục tố tụng tiếp theo trong quá trình chuẩn bị xét xử đều được Thẩm phán thực hiện đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật; tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Nguyễn Thành T và Dương Thị Th phải trả khoản nợ vay cho nguyên đơn Tăng Thị Kh số tiền 331.000.000,đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Tăng Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thành T và bà Dương Thị Th ở thôn S, xã N, huyện Hoài Ân phải trả số tiền 331.000.000,đ, là khoản tiền ông ông T , bà Th vay của bà Kh nên Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015.

Đối với bị đơn Nguyễn Thành T, Dương Thị Th, trong quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông T và bà Th vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn Tăng Thị Kh trình bày: Bà vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông T, bà Th phải trả số tiền vay còn nợ là 331.000.000,đ và không yêu cầu tính lãi suất chậm trả.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Từ ngày 06/7/2018 đến ngày 24/10/2018, vợ chồng ông Nguyễn Thành T và bà Dương Thị Th có vay của bà Tăng Thị Kh 04 lần với tổng số tiền vay là 331.000.000,đ, theo lời khai của ông T mục đích vay là để vợ chồng ông làm ăn, có giấy vay tiền do ông T, bà Th viết và được hai bên thừa nhận. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết nên nguyên đơn Tăng Thị Kh đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả số tiền còn nợ là 331.000.000,đ và tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất chậm trả là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Đối với yêu cầu của bị đơn Nguyễn Thành T chấp nhận còn nợ vay của bà Tăng Thị Kh là 331.000.000,đ và đồng ý trả nợ, nhưng xin được trả làm nhiều lần cho đến khi trả hết nợ. Tuy nhiên, tại buổi làm việc với Tòa án ông T từ chối ký vào biên bản lấy lời khai; sau đó cả ông Tự, bà Th vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do là cố tình trốn tránh, không có thiện chí trả nợ, nhằm chiếm dụng lâu dài khoản tiền trên của nguyên đơn nên không có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì ông T, bà Th phải chịu (331.000.000,đ x 5%) = 16.550.000,đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 7.000.000,đ tiền tạm ứng án phí đã nộp là theo biên lai thu số 0005913 ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân cho nguyên đơn Tăng Thị Kh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 463, Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tăng Thị Kh.

Buộc bị đơn Nguyễn Thành T và Dương Thị Th phải trả cho nguyên đơn Tăng Thị Kh số tiền 331.000.000,đ (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Nguyễn Thành T, Dương Thị Th phải nộp 16.550.000,đ.

Hoàn trả 7.000.000,đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005913 ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân cho nguyên đơn Tăng Thị Kh.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết, hoặc ngày nhận được tống đạt bản án để yêu cầu TAND tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ