- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T bị truy tố về tội TTTP chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HSST Ngày 28 tháng 02 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Giáp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Đức Toại, cán bộ hưu xã T, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh;
2. Ông Ngô Mạnh Hải, cán bộ hưu phường T, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh.
Những người tiến hành tố tụng khác:
Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thu Hường, Thư ký Toà án thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Ông Đỗ Tá Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2019/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXXST-HS ngày 13/02/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 tại xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; Tên gọi khác:
Không;
Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968 và bà Nguỵ Thị T, sinh năm 1970; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; bị cáo chưa có con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 10 năm 2018 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14h00 phút ngày 12/10/2108, Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh đi xe bus từ địa bàn huyện Q đến thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh với mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến địa bàn phường Đình Bảng, thị xã TS, T xuống xe đi bộ vào khu dân cư. Trên đường đi, T nhìn thấy 01 nam thanh niên có biểu hiện nghiện ma tuý đang đút tiền qua ô thoáng ở giữa cánh cửa sắt đang đóng của 01 ngôi nhà ven đường. Từ bên trong nhà, có người đưa ra ngoài cho nam thanh niên 01 gói nhỏ, nam thanh niên cầm gói nhỏ rồi bỏ đi. Thấy vậy, T biết là ngôi nhà này có bán ma tuý, nên T đã đi đến trước cửa ngôi nhà, lấy 400.000 đồng mang theo đút qua ô thoáng giữa cửa vào bên trong nhà. Bên trong nhà có người T không nhìn thấy mặt, cầm tiền rổi đưa ra ngoài cho T 02 gói nhỏ đều bọc ngoài là lớp giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. T cầm 02 gói nhỏ vào trong lòng bàn tay phải quay ra đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu phố Trung Hoà, phường Đình Bảng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng. Vật chứng là 02 gói nhỏ đã được niêm phong có chữ ký của bị cáo và người chứng kiến.
Cùng ngày 12 tháng 10 năm 2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số: 389, trưng cầu giám định 02 gói nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng thu giữ từ Nguyễn Văn T như đã nêu trên. Yêu cầu giám định: “Mẫu vật gửi giám định có phải ma tuý không? Loại gì? Tên gọi? Trọng lượng?”.
Tại bản Kết luận giám định số: 1050/KLGĐMT-PC09 ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng có khối lượng 0,1557 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine.
Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận: Do mắc nghiện ma túy từ năm 2016, nên ngày 12/10/2018, bị cáo đã đến phường Đình Bảng, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh với mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Khi đến phường Đình Bảng, bị cáo đi vào khu dân cư, đến trước 01 ngôi nhà có cửa sắt đang đóng, ở giữa cánh cửa có 01 lỗ nhỏ. Bị cáo lấy 400.000 đồng mang theo đút qua lỗ nhỏ vào bên trong. Bên trong nhà có người bị cáo không nhìn thấy mặt nhận tiền rồi đưa lại cho bị cáo 02 gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Bị cáo cầm gói nhỏ quay ra đi tìm nơi sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì đã bị Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng. Vật chứng là 02 gói nhỏ đã được niêm phong, có chữ ký của bị cáo và người chứng kiến. Khi mở vật chứng để giám định có sự chứng kiến của bị cáo. Phong bì niêm phong gói nhỏ thu giữ từ bị cáo vẫn còn nguyên vẹn, bên trong vẫn là 02 gói ma tuý bị cáo mua được trước đó. Bị cáo không quen biết người mua ma tuý trước bị cáo; không biết địa danh và không nhớ vị trí ngôi nhà đã bán ma tuý cho bị cáo. Bị cáo nhất trí với bản Kết luận giám định số: 1050/KLGĐMT-PC09 ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, không yêu cầu giám định lại. Các tình tiết được mô tả trong bản cáo trạng Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa giống với bản cáo trạng bị cáo đã nhận được, đúng với diễn biến của vụ án mà bị cáo đã thực hiện. Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Gia đình bị cáo kinh tế khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn phạt tiền cho bị cáo.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà hôm nay, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã đ-ược thẩm tra tại phiên toà; ý kiến của bị cáo và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T từ 14 đến 17 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12 tháng 10 năm 2018. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật còn lại sau giám định.
Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với bản luận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Kết thúc phần tranh luận, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn phạt tiền cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà,
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN XÉT VỀ VỤ ÁN
1. Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng với các tình tiết của vụ án mà bị cáo đã thực hiện. Vật chứng được thu giữ từ bị cáo và giám định theo đúng trình tự luật định, sau giám định đã kết luận vật chứng thu giữ từ T có khối lượng là 0,1557 gam là ma túy; loại ma tuý: Heroine. Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.
Ma túy là chất do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều không được tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng khi không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng Nguyễn Văn T vẫn tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2. Về hình phạt:
- Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo phạm tội không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác. Do vậy, chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nạn ma tuý là hiểm họa của xã hội, bị loài người cực lực lên án. Vì nó, mà không biết bao nhiêu gia đình cha mẹ mất con, vợ mất chồng, đạo đức xã hội bị băng hoại, sức khoẻ bị suy tàn, giống nòi bị thui chột, tài sản bị khánh kiệt. Đây còn là nguyên nhân trực tiếp của nhiều tội phạm nguy hiểm khác và cũng là con đường ngắn nhất để lây truyền căn bệnh vô phương cứu chữa. Biết vậy, nhưng chỉ vì để thoả mãn nhu cầu ích kỷ, đồi bại của bản thân, bị cáo vẫn lao vào ma tuý, lao vào con đường phạm tội, để rồi phải đứng trước phiên toà hôm nay chịu sự trừng phạt của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy, sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích trục lợi và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tại phiên toà, bị cáo đề nghị miễn phạt tiền và Viện kiểm sát cũng không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Liên quan trong vụ án này còn có người và ngôi nhà đã bán ma tuý cho bị cáo. Nhưng bị cáo không nhìn thấy mặt người bán, không nhớ vị trí ngôi nhà đã bán ma tuý cho bị cáo. Vì vậy, Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Về các vấn đề khác:
- Về vật chứng vụ án: Khi bắt quả tang Nguyễn Văn T tàng trữ ma tuý, Cơ quan điều tra đã thu giữ từ T 0,1557 gam ma tuý. Sau giám định, Cơ quan giám định hoàn lại vỏ đựng mẫu vật và 0,1309 gam mẫu vật còn lại. Xét thấy, vỏ đựng mẫu vật không có giá trị sử dụng và mẫu vật còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Xử phạt: Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 12 tháng 10 năm 2018. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 02 năm 2019.
3. Về các vấn đề khác:
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và 0,1309 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh;
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST;
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thị, tỉnh; - Công an thị xã TS; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Chi cục Thi hành án dân sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà |