vanban.org

Bản án 25/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Bá P phạm tội "Trộm cắp tài sản".

[1] . Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Bá P 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/7/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ BÁ P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bá P phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HS-ST
Ngày: 24 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trí.

Ông Hoàng Văn Duân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Vũ Công - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2019/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/ QĐXXST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Bá P. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/12/1985 Tại huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Phố ĐĐ, thị trấn RT, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo Không; Quốc tịch Việt nam; Con ông Lê Bá H, sinh năm 1959 và bà Thiều Thị D, sinh năm 1959; Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 3 chị em; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án:

+ Bản án số 23/2012/HSST ngày 03/5/2012, của TAND quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản". Ngày 30/6/2012 chấp hành xong hình phạt về địa phương.

+ Bản án số 204/2013/HSST ngày 21/8/2013, của TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 38 tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 10/4/2016 chấp hành xong hình phạt về địa phương.

+ Bản án số 02/2017/HSST ngày 28/3/2017, của TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 11/10/2018 chấp hành xong hình phạt về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2019, có mặt.

Người bị hại:

- Chị Vũ Thị P, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Tổ AS2, phường TA, thị xã NL, Yên Bái. Vắng mặt.

Người làm chứng:

- Chị Hoàng Thị Th, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Tổ AS2, phường TA, thị xã NL, Yên Bái. Vắng mặt.

- Chị Đỗ Thị Thu Huyền, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Tổ AS2, phường TA, thị xã NL, Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 5 giờ ngày 28/6/2019 Lê Bá P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kểm soát 36B5 -86013 đến nhà trọ của chị Lương Thị K, sinh năm 1990 tại tổ Tổ AS2, phường TA, thị xã NL, Yên Bái, với mục đích vay tiền nhưng chị K không có nhà, cửa phòng khóa. Quan sát thấy phòng trọ của chị Vũ Thị P ở đối diện với phòng trọ của chị Kmở cửa, trên giường ngủ có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 PLUS, mầu vàng. Thấy không có người ở trong phòng, xung quanh không có ai, P nẩy sinh ý định chiếm đoạt và đi vào trong phòng lấy trộm chiếc điện thoại trên, sau đó mang đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động của anh Đỗ Duy Th ở tổ 06, phường TT, thị xã NL bán với giá 2.000.000 đồng. Bán được điện thoại Lê Bá P đi về TH và chi tiêu hết số tiền trên. Đến ngày 21/7/2019 Lê Bá P bị Công an thị xã Nghĩa Lộ bắt giữ.

Ngày 19/7/2019 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Nghĩa Lộ đã định giá và kết luận: Chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6 PLUS vỏ mầu vàng mà Lê Bá P trộm cắp của chị Vũ Thị P có trị giá thực tế còn lại là 2.700.000 đồng (Hai triệu bẩy trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 25/ CT - VKS - NL ngày 04 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo về tội " trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ hai năm đến hai năm sáu tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[l] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi mình đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/6/2019, Lê Bá P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại của chị Vũ Thị P có trị giá 2.700.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Xét nhân thân của Lê Bá P thấy rằng: Ngày 03/5/2012, bị TAND quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản", ngày 30/6/2012 ra tù. Ngày 21/8/2013, bị TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 38 tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 10/4/2016 ra tù.

+ Ngày 28/3/2017, bị TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS "Tái phạm", xử phạt 24 tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 11/10/2018 ra tù.

Lần này (Ngày 28/6/2019) tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm nguy hiểm theo quy định tại b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự và là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại Điều điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, Lê Bá P là người nghiện ma túy bị nhiễm HIV.

Như vậy có cơ sở kết luận: Lê Bá P là người không thường xuyên có mặt tại nơi cư trú, sống lang thang, liên tục phạm tội, có nhân thân xấu.

Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, lần này phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ xung là phạt tiền.

Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội. Đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung.

Trong vụ án này:

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 PLUS mầu vàng, Lê Bá P bán cho anh Đỗ Duy T, T đã bán lại cho một người không biết tên và địa chỉ, nên không thu hồi được. Đỗ Duy T không biết chiếc điện thoại trên do P trộm cắp mà có. Nên Đỗ Duy T không phạm tội.

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, mầu sơn trắng, đỏ, đen, biển kiểm soát 36B5- 860.13 Lê Bá P làm phương tiện để đi trộm tài sản. Qúa trình điều tra xác minh, chiếc xe mô tô trên P mượn của chị Lê Thị H, sinh năm 1982, trú tại Đội 6, xã ĐA, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa, là chị gái của P để đi lại, chị H không biết P sử dụng làm phương tiện phạm tội. Nên Lê Thị H không phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Bá P phạm tội "Trộm cắp tài sản".

[1] . Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Bá P 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/7/2019.

[2] . Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Bá P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; Để nộp ngân sách.

[3] Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ