vanban.org

Bản án 25/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 17/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Chống ngƣời thi hành công vụ.

Áp dụng: khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Trần Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2019. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn Tràng - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Chống ngƣời thi hành công vụ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ BẢY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HSST
Ngày: 17/10/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Huỳnh Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hoàng Thái

2/ Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Thẩm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Thu Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã TT, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐXXST-HS ngày 03/10/2019 đối với bị cáo:

Trần Văn T – sinh năm:1998; Tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Ấp ĐB, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T0, sinh năm 1964 và bà Lê Thị N0, sinh năm 1968.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam vào ngày 17/7/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chung Ngọc Đ1, sinh năm 1996. (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đông An A, xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Lê Phước H2, sinh năm 1981 (Có mặt).

Trú tại: Ấp ĐB, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.

- Lê Thị N2, sinh năm 1968 (Có mặt).

Trú tại: Ấp ĐB, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 06/5/2019, ông Chung Ngọc Đ1 là công an viên xã TT được sự phân công của Chỉ huy Công an xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang đến nhà ông Lê Phước H2, sinh năm 1981; ngụ ấp ĐB, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang để xác minh và ghi lời khai đối với ông Lê Phước H2 và bà Lê Thị N2 (mẹ của T) trong vụ hủy hoại tài sản xảy ra ngày 03/5/2019 tại nhà của ông H2 do Trần Văn T, sinh năm 1998; ngụ ấp ĐB, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang thực hiện. Trong lúc này thì Cao Thật S4 điều khiển xe mô tô chở T về nhà mẹ T là bà Lê Thị N2 trong tình trạng đã sử dụng rượu bia. Đến nhà, T thấy ông Đ1 đang trong nhà ông H2 làm việc với ông H2 và bà N2 thì T nói “ê không đội nón bảo hiểm nè giỏi ra bắt đi”, đồng thời hỏi ông Đ1 “Công an lên đây làm gì” và T yêu cầu ông Đ1 đọc biên bản cho T nghe nhưng ông Đ1 không đọc, nên T giật biên bản làm việc đưa cho S4 đọc nhưng ông Đ1 đã giật biên bản lại được. Tiếp đó T chạy về nhà mình (kế bên nhà H2) lấy 01 (một) con dao yếm bằng kim loại cán bằng gỗ, dài 45cm, bề rộng nhất lưỡi dao 09cm, mũi dao nhọn rượt chém ông Đ1, thấy T quá hung hăng nên ông H2 kêu ông Đ1 chạy ra phía sau nhà ông H2 trốn, còn ông H2 cùng với S4 can ngăn T và giật lấy con dao ném ra sân, cùng lúc này T quan sát thấy trong nhà ông H2 có 01 (một) con dao nên T định lấy để tiếp tục chém ông Đ1 nhưng S4 đã lấy được con dao trước và đem ra ngoài sân. Trong lúc đó T nói với ông Đ1 “Công an có võ, giỏi ra đây chơi với tao” và thấy ông H2 đang ghi vào biên bản làm việc nên giật lấy nhưng không đọc được nên T bỏ lại trên bàn, đi ra xe thì S4 chở T về nhà S4 cùng với 02 cây dao ở ấp ĐB, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang. Đến nhà Sự, T lấy cây dao của ông H2 vứt xuống sông, cây dao còn lại đem vào nhà S4, khoảng 03 ngày sau bà N2 đến nhà S4 lấy con dao về và tiếp tục sử dụng. Quá trình điều tra T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng thu giữ: Cơ quan CSĐT-Công an thị xã Ngã Bảy thu giữ 01 cây dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 45cm (phần lưỡi dao dài 30cm; cán dài 15cm) bề rộng nhất lưỡi dao 09cm, mũi dao nhọn.

Tại cáo trạng số 30/CT-VKS-TXNB ngày 17/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang đã quyết định truy tố Trần Văn T có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên ra trước Toà án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang để xét xử về tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Văn T theo tội danh và điều luật như quyết định cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T với mức án từ 09 đến 12 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2019.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị trả lại 01 cây dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 45cm (phần lưỡi dao dài 30cm; cán dài 15cm) bề rộng nhất lưỡi dao 09cm, mũi dao nhọn cho bà Lê Thị N2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi chống người thi hành công vụ đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Chung Ngọc Đ1 - Công an viên xã TT như nội dung cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của bị cáo với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có đủ cơ sở khẳng định:

Vào lúc khoảng 18 giờ ngày 06/5/2019, ông Chung Ngọc Đ1 là Công an viên xã TT được sự phân công của Chỉ huy Công an xã TT đến nhà ông Lê Phước H2 để xác minh vụ hủy hoại tài sản xảy ra ngày 03/5/2019 do T thực hiện. Trong lúc ông Đ1 đang làm nhiệm vụ thì T về tới có lời lẽ thách thức yêu cầu ông Đ1 đọc biên bản cho T nghe nhưng ông Đ1 không đọc, lúc này T giật biên bản nhưng không đọc được. Tiếp đó, T về nhà lấy dao yếm rượt chém ông Đ1 nhằm mục đích không cho ông Đ1 thực hiện được nhiệm vụ của Chỉ huy Công an xã TT giao phó. Khi bị ông H2 và S4 can ngăn giật lại con dao thì T lại tìm kiếm phương tiện phạm tội khác là con dao trong nhà ông Hậ2 để uy hiếp ông Đ1 nhưng được S4 can ngăn và chở T về nhà của S4.

Từ những hành vi như đã nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận Trần Văn T phạm tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với hành vi hủy hoại tài sản, xảy ra ngày 03/5/2019 tại nhà ông Lê Phước H2 thuộc ấp ĐB, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang do Trần Văn T thực hiện hành vi. Do giá trị tài sản hư hỏng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời ông Lê Phước H2 không yêu cầu xử lý và bồi thường tài sản bị hư hỏng nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi trên.

Hành vi dùng vũ lực chống đối lại người thi hành công vụ của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của Cơ quan Nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, thể hiện sự xem thường pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đã gây ra.

Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên, xét cần có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cũng như đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cáo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Ngã Bảy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng: Đối với 01 cây dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 45cm (phần lưỡi dao dài 30cm; cán dài 15cm) bề rộng nhất lưỡi dao 09cm, mũi dao nhọn qua xác minh là của bà Lê Thị N2 nên cần trả lại cho bà N2.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 268, Điều 269 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Chống ngƣời thi hành công vụ.

Áp dụng: khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Trần Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2019. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bà Lê Thị N2 01 cây dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 45cm (phần lưỡi dao dài 30cm; cán dài 15cm) bề rộng nhất lưỡi dao 09cm, mũi dao nhọn.

Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ