- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Mai Minh T phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1, Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 25/2019/HS-ST Ngày: 15/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM,TỈNHBÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Kim Ngân.
Ông Văn Phú Hiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thành – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2019/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Mai Minh T, sinh năm: 1996 tại Kiên Giang;
Nơi cư trú: Ấp BA, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Minh T, sinh năm: 1958 và bà Lê Thị C, sinh năm: 1962; bị cáo chưa có vợ con;
Tiền sự: Ngày 13/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng. Chấp hành xong ngày 28/5/2017.
Tiền án: Không.
Bị bắt, tạm giam ngày 21/02/2019.
“Bị cáo có m t”.
Bị hại:
- Anh Hà Hoàng T, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Tổ 5, ấp BA, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng m t”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê T, sinh năm: 1954; nơi cư trú: Tổ 8, ấp TB 2, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng m t”
Người làm chứng:
- Ông Lê L, sinh năm: 1940; nơi cư trú: Ấp BA, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có m t”
- Ông Hà Minh T, sinh năm: 1961; nơi cư trú: Ấp BA, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng m t”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ, ngày 27/10/2018 khi đi ngang qua nhà anh Hà Hoàng T bị cáo Mai Minh T thấy cửa phòng khách nhà anh T chỉ khép nhưng không khóa, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình anh T nên đi vào mở cửa, thấy mẹ của anh T đang ngủ trên võng ở lối đi từ phòng khách ra nhà sau, bên phải phòng khách có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Exciter, biển số 72G – 455.64 trên xe cắm sẵn chìa khóa. Bị cáo lén dắt xe ra ngoài rồi tẩu thoát về hướng xã Thắng Hải, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Khi đến địa phận cầu Nước M n giáp ranh giữa huyện XM và huyện Hàm Tân, bị cáo điều khiển xe vào khu vực đất trống, dùng dụng cụ có trong xe tháo gỡ biển số cất vào cốp xe rồi tiếp tục chạy xe tới thôn Hà Lãng, xã Thắng Hải, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận để tìm bạn tên Phan Triệu Ân nhưng không g p. Bị cáo được một nhóm thợ xây đang nhậu gần đó mời nhậu, trong lúc nhậu có một thanh niên không rõ lai lịch cho bị cáo biển số 75F1 – 598.24. Bị cáo dùng biển số này gắn vào xe rồi đi mua ma túy sử dụng, đến 03 giờ sáng ngày hôm sau (28/10/2018) bị cáo chạy xe về nhà ông Lê T, sinh năm 1945, ở ấp TB 2, xã BC, huyện XM. Tại đây khi bị cáo đang tháo rời một số bộ phận của xe để tránh bị phát hiện thì bị người nhà của anh T phát hiện nên đã trình báo với Cơ quan Công an.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 42/KL- HĐĐG ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện XM thì tại thời điểm xảy ra vụ án, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Exciter, biển số 72G1- 455.64 có giá trị là 38.850.000đ.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.
Người làm chứng ông Lê L trình bày phù hợp với lời trình bày của bị cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.
Bản cáo trạng số 27/CT - VKS - XM ngày 22/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện XM truy tố bị cáo Mai Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hà Hoàng T đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất cắp, anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Về vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Exciter, biển số 72 G1 – 455.64 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại cho bị hại là anh Hà Hoàng T.
Đối với biển số xe 75 F1 – 598.24 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh và thông báo cho chủ sở hữu tới liên hệ giải quyết, nhưng đến nay chưa làm việc được.
Đối với ông Lê T là người cho bị cáo để xe ở nhà mình nhưng không biết xe trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo Mai Minh T nói lời sau cùng: Bản thân bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện XM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về tố tụng: Tại phiên tòa bị hại anh Hà Hoàng T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê T và người làm chứng ông Hà Minh T vắng m t. Xét thấy bị hại anh Hà Hoàng T, đã có lời khai rõ ràng đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê T và người làm chứng ông Hà Minh T đã có lời khai rõ ràng phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Vì vậy việc vắng m t những người tham gia tố tụng nói trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t họ, theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Nếu sau này bị hại có yêu cầu bồi thường về dân sự sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác cũng như những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Theo đó xác định được rằng:
Khoảng 13 giờ ngày 27/10/2018 bị cáo có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Exciter, biển số 72G1 – 455.64 của anh Hà Hoàng T, sau đó bị cáo gắn biển số 75F1 – 598.24 và tháo rời một số bộ phận khác của xe để tránh bị phát hiện thì đã bị người nhà của anh T phát hiện và trình báo với Cơ quan Công an. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 42/KL – HĐĐG ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện XM tại thời điểm xảy ra vụ án: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter biển số 72G1- 455.64 mà bị cáo lấy trộm của anh Hà Hoàng T có giá trị là 38.850.000đ (Ba mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Như vậy hành vi của bị cáo nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ đó cho thấy bản cáo trạng số 27/CT-VKS - XM ngày 22 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện XM truy tố bị cáo Mai Minh T về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác mà không phải lao động, bị cáo đã lén lút lợi dụng sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản nhằm thu lợi bất chính, phục vụ nhu cầu của bản thân. Xét về nhân thân bị cáo có 01 tiền sự bị Tòa án nhân dân huyện XM áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” nhưng bị cáo không sửa đổi bản thân lại phạm tội “Trộm cắp tài sản” từ đó cho thấy bị cáo có ý thức xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng n ng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để cân nhắc giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Hà Hoàng T đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là anh Hà Hoàng T 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, đen, bạc, số khung 061HY454494, số máy G3D4E475618. Trong quá trình điều tra bị cáo cũng đã giao trả lại biển số 72G1- 455.64 cho anh T. Nay anh T không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với biển số 75F1 – 598.24, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến xác minh và thông báo cho chủ sở hữu đến liên hệ giải quyết, nhưng đến nay chưa làm việc được, khi nào tìm được chủ sở hữu sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác:
Đối với người cho bị cáo biển số 75F1 – 598.24, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được họ tên của người này nên tách riêng để tiếp tục điều tra xử lý bằng vụ án khác là có cơ sở.
Đối với ông Lê T là người cho bị cáo để xe ở nhà mình nhưng không biết xe do bị cáo trộm cắp mà có nên không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Thăng.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Mai Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 173, Điều 38, điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo: Mai Minh T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/02/2019.
2. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Mai Minh T phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND huyện XM; - Công an huyện XM; - Chi cục THADS huyện XM; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thảo |