vanban.org

Bản án 25/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An Tuyên án 31/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân T "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HS-ST
Ngày: 31-5-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Nhanh.

2. Ông Nguyễn Thành Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức

Huệ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia

phiên tòa: Ông Lý Văn Quyển - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5

năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST-HS ngày 13

tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Xuân T - Sinh năm 1994; tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn Y, xã N,

thành phố K, tỉnh Kon Tum; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Tài xế; giới tính:

Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C,

sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị M, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án,

tiền sự: Không; bị b t tạm giữ, tạm giam t ngày 15/01/2019 cho đến nay. (Có

mặt)

- Người làm chứng: Ông Lê Văn T - Sinh năm 1982 - Địa chỉ: Ấp 4, xã Q,

huyện Đ, tỉnh Long An. (V ng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm t t như sau:

Vào lúc 03 giờ 30 ngày 15 tháng 01 năm 2019, Đồn Biên phòng cửa khẩu Q b t

quả tang Phạm Xuân T, cùng với 01 đối tượng không rõ nhân thân đang chất 3.800 bao thuốc lá ngoại lên xe ô tô tại ấp 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh Long An. Trong quá trình b t giữ lợi dụng trời tối 01 đối tượng đã chạy thoát, Đồn Biên phòng của khẩu Q lập biên bản phạm pháp quả tang tạm giữ được T và tang vật để tiếp tục xác minh làm rõ.

Tang vật tạm giữ:

- Xe ô tô nhản hiệu Honda, số loại ACCORD, Biển kiểm soát: 85Y-0515, số

khung: 1HGBA5430GA124363, số máy: BS-1287770.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5, số IMEI 3550790832 5191 đã qua

sử dụng.

- 3.800 bao thuốc lá ngoại gồm 2.900 bao thuốc lá hiệu Jet, 900 bao thuốc lá

hiệu CRAVEN A.

Quá trình điều tra bị cáo Phạm Xuân T khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 01/2019,

thông qua mới quan hệ quen biết có người chú tên V nhà ở khu vực T, tỉnh Đồng Nai, khi biết T có giấy phép lái xe nên yêu cầu T đến Đồng Nai để chạy xe cho V. Sau đó T đi xe đò đến Đồng Nai gặp V và được V yêu cầu lái xe cho V với lương tháng là 7.000.000 đồng. Khoảng 01 giờ ngày 15 tháng 01 năm 2019, V yêu cầu T lấy xe ô tô chở V đến cửa khẩu Q, huyện Đ. Sau khi đến Q, V yêu cầu T chạy xe đến ấp 4, xã Q, tại đây V và T nhận thuốc của số người lạ giao và đang chất lên xe ô tô thì lực lượng Đồn Biên Phòng b t giữ, lợi dụng đêm tối người tên V tẩu thoát.

Bị cáo Phạm Xuân T còn khai nhận trong thời gian lái xe cho ông V (khoảng 15

ngày) có 3-4 lần sử dụng xe trên chở ông V và khách đến cửa khẩu Q để khách sang Casino chơi, trong đó có 1 lần thấy ông V chất các bọc đen sau cóp xe về đến Bình Dương ông V giao cho ai không biết. Lúc đó T không xác định là gì nhưng sau đó biết là thuốc lá ngoại vì các bọc đen lần trước giống các bọc đen lần bị b t quả tang.

Đối với các đối tượng liên quan như người đàn ông T khai tên V là người thực

tiếp thuê T lái xe để Vận chuyển thuốc lá ngoại có nơi thường trú tại khu vực T, tỉnh Đồng Nai nhưng không rõ địa chỉ cụ thể, hiện tại T không xác định được nơi cư trú. Cơ quan điều tra không xác minh làm việc được nên không đề cập đến.

Đề xuất xử lý tang vật của cơ quan cảnh sát điều tra: Xe ô tô nhản hiệu Honda,

số loại ACCORD, biển kiểm soát: 85Y-0515, số khung: 1HGBA5430GA124363, số máy: BS-1287770. Qua xác minh nguồn gốc chiếc xe trên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1970, hộ khẩu thường trú: khu phố 4, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, đến ngày 01/4/2015, bà Sương đã làm thủ tục bán chiếc xe trên cho ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1978, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Bình Thuận (Hợp đồng mua bán có làm thủ tục công chứng tại Phòng công chứng thành phố P). Sau đó ông H không sang tên mà tiếp tục bán chiếc xe trên cho người khác không rõ địa chỉ cụ thể ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra làm thủ tục thông báo tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến nhận. Đề nghị tịch thu xung vào công quỹ Nhà nước.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang tạm giữ những vật

chứng sau: 3.800 bao thuốc lá ngoại gồm 2.900 bao thuốc lá hiệu Jet, 900 bao thuốc

lá hiệu CRAVEN A; xe ô tô nhãn hiệu Honda, số loại ACCORD, biển kiểm soát: 85Y-

0515, số khung: 1HGBA5430GA124363, số máy: BS-1287770; 01 điện thoại di

động hiệu Samsung J5, số IMEI 3550790832 5191 đã qua sử dụng.

Cáo trạng số: 24/CT-VKS-ĐH ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Viện Kiểm sát

nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội “Vận chuyển hàng

cấm” theo điểm c khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân

tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều

32, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 02 đến 03 năm tù.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn dân sự.

- Đề nghị tịch thu giao cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý:

3.800 bao thuốc lá ngoại (bao gồm 2.900 bao hiệu Jet, 900 bao nhãn hiệu

CRAVEN A) do nước ngoài sản xuất không chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa,

không xác định chủ sở hữu.

- Xe ô tô nhản hiệu Honda, số loại ACCORD, biển kiểm soát: 85Y-0515, số

khung: 1HGBA5430GA124363, số máy: BS-1287770. Bị cáo sử dụng làm phương

tiện vận chuyển hàng cấm, đã thông báo truy tiềm chủ sở hữu không có người nhận.

Đề nghị tịch thu xung vào công quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Sam sung J5, số IMEI 3550790832 5191 đã qua

sử dụng. Là tài sản hợp pháp của Phạm Xuân T không xác định T dùng điện thoại để

thực hiện hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho bị cáo.

Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào ngày 15/01/2019, (khoảng 01 giờ 00 phút) Phạm Xuân T nhận lời

vận chuyển thuê thuốc lá cho người khác nên dùng xe 01 ô tô nhãn hiệu Honda, số

loại ACCORD, Biển kiểm soát: 85Y-0515, số khung: 1HGBA5430GA124363, số

máy: BS-1287770 (không xác định được chủ sở hữu), vận chuyển 3.800 bao thuốc

ngoại (2.900 bao hiệu Jet và 900 bao hiệu CravenA), t khu vực ấp 4, (địa danh

Tho Mo) xã Q, huyện Đ về thành phố B, tỉnh Đồng Nai không có chứng t hóa đơn

xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 3.800 bao với mục đích vận chuyển thuê ăn tiền công 7.000000 đồng/tháng (chưa nhận tiền) khi T đưa số thuốc lá lên xe tại khu vực ấp 4, xã Q, huyện Đ thì bị lực lượng chức năng b t quả tang người và tang vật.

Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra,

quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện đúng và hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan biên bản b t người phạm tội quả tang do Đồn Biên phòng cửa khẩu Q, huyện Đ, tỉnh Long An lập lúc 04 giờ 00 phút ngày 15/01/2019 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Phạm Xuân T phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 24/CT-VKS-ĐH ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo Phạm Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh

hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên t đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa thuốc lá ngoại không có chứng t hóa đơn xuất xứ hàng hóa t khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia (ấp 4, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ) về thành phố B, tỉnh Đồng Nai với số lượng 3.800 bao. Hành vi này của bị cáo T phải được xử lý nghiêm, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ng a.

Đối với việc khi cáo tự khai có lần vận chuyển thuốc lá ngoại đã thực

hiện trước đó, không thu giữ được vật chứng (thuốc lá ngoại), ngoài lời khai của bị cáo Phạm Xuân T ra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, không đủ căn cứ buộc tội nên không tính bị cáo phạm tội nhiều lần và buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

Xét thấy bị cáo Phạm Xuân T trong quá trình truy tố và xét xử thật thà

khai báo, bản thân chưa có tiền án, chỉ là người vận chuyển thuê, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo

Phạm Xuân T là có cơ sở theo quy định pháp luật.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình

sự.

- 3.800 bao thuốc lá ngoại (bao gồm 2.900 bao thuốc lá hiệu Jet, 900 bao

thuốc lá hiệu CravenA) do nước ngoài sản xuất không có chứng hóa đơn xuất xứ

hàng hóa, không xác định chủ sở hữu. Theo quy định tại quyết định số

20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ thì hiện nay tạm d ng tiêu hủy

thuốc lá ngoại nhập lậu theo quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 nên tịch

thu giao cho cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý theo quy

định chung.

- Xe ô tô nhãn hiệu Honda, số loại ACCORD, biển kiểm soát: 85Y- 0515, số

khung: 1HGBA5430GA124363, số máy: BS-1287770. Bị cáo sử dụng làm phương

tiện vận chuyển hàng cấm, đã thông báo truy tìm chủ sở hữu không có người nhận

nên tịch thu xung vào công quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5, số IMEI 3550790832 5191 đã qua sử

dụng, là tài sản hợp pháp của Phạm Xuân T do không xác định T dùng điện thoại để

thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Đối với tiền thu lợi bất chính bị cáo chưa nhận tiền công vận chuyển

7.000.000đồng/tháng nên không đề cập thu hồi lại.

Đối với những người giới thiệu, người thuê bị cáo, người giao nhận

thuốc cho bị cáo, cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được

nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp

tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này

là phù hợp. Nhằm không bỏ lọt tội phạm, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra

xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 299,

Điều 326 và Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

3. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù

tính t ngày 15/01/2019.

4. Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu giao cơ quan Chi cục thi hành án dân huyện Đức Huệ sự xử lý

3.800 bao thuốc lá ngoại (bao gồm 2.900 bao thuốc lá hiệu Jet, 900 bao thuốc lá hiệu CravenA) theo quy định hiện hành (quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ).

- Tich thu sung công: 01 ô tô nhãn hiệu Honda, số loại ACCORD, biển kiểm

soát: 85Y-0515, số khung: 1HGBA5430GA124363, số máy: BS-1287770.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5, số IMEI

3550790832 5191 đã qua sử dụng.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm

nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn

15 ngày tính t ngày tuyên án (ngày 31/5/2019).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ