- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo c a bị cáo Phan Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH ___________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HS-PT Ngày: 14-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Tự
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Trung
Ông Ngô Đê
- Thư ký phiên tòa: ng Phan Vũ ăng, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: ng Nguyễn Thanh Hoàng- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số:17/2019/HSPT, ngày 26/4/2019 đối với bị cáo Phan Văn D.
Do c kháng cáo c a bị cáo Phan Văn D và người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh T, ông Vũ Văn G đối với bản án hình sự s thẩm số:08/2019/HSST, ngày 18 tháng 3 năm 2019 c a Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh T.
-Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn D, sinh năm 1983 tại thành phố Biên H, tỉnh Đ; n i cư trú: K4/162B, ấp T, phường B, thành phố B, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn h a: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn B, sinh năm 1952 và bà ê Thị T, sinh năm 1954; c vợ: Nguyễn Thị Diễn P, sinh năm 1984 ; Con c 02 người lớn nhất sinh năm 2002 nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi n i cư trú” từ ngày 10/4/2018, đến ngày 01/3/2019 chuyển sang tạm giam cho đến nay, bị cáo c mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
1/ Ông Vũ Văn G, sinh năm 1974. N i cư trú: ấp Bình T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền G (có mặt).
2/ ng Huỳnh Minh T, sinh năm 1984. N i cư trú: ấp tân T, xã B, huyện Ch, tỉnh Tiền G (c mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn c người bị hại, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do không c kháng cáo, không c kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
Công ty cổ phần xây dựng Hoàng Phúc Sài Gòn (gọi là Công ty Hoàng P) do ông Lê Thanh T là giám đốc làm đại diện và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phan Huệ (viết tắt Công ty TNHH MTV) do bị cáo Phan Văn D là giám đốc c ký kết làm ăn cụ thể như sau:
Ngày 25/12/2016 Công ty TNHH MTV Phan Huệ c ký kết hợp đồng cho Công ty Hoàng P - Sài G thuê thiết bị thời hạn 6 tháng, do các bên vi phạm nội dung hợp đồng ghi trong hợp đồng nên phía Công ty TNHH MTV Phan Huệ L đã rút thiết bị trước hạn, phía Công ty Hoàng P - Sài G chưa thanh toán đ tiền đã thuê thiết bị cho Công ty TNHH MTV Phan Huệ . Để thu hồi khoản tiền này, bị cáo Phan Văn D tìm đến Công ty Hoàng P - Sài G và biết Công ty đang thi công công trình xử lý nước thải trên địa bàn thành phố T, tỉnh T và Công ty c kho chứa vật liệu công trình trên đất c a bà Võ Thị Kim P, ở ấp Đầu B, xã Hòa T, huyện Châu T, tỉnh T không c người trông coi vào ban đêm, nên bị cáo D nảy sinh ý định lấy trộm số tấm tôn sắt đang tập kết tại đây bán để lấy tiền trừ số tiền Công ty Hoàng P - Sài G còn nợ và chi trả nợ cho bị cáo.
Để thực hiện ý định c a mình, ngày 02/3/2018, bị cáo D đến nhà ông Nguyễn Văn T ngụ ấp Vĩnh H, xã ong Đ, thành phố T, tỉnh T hỏi thăm để tìm n i tiêu thụ số tôn sắt định lấy trộm. ng T giới thiệu em rễ ông là ông Nguyễn Văn K, ngụ ấp Vĩnh H, xã Long Đ thành phố T, tỉnh T. Tại nhà ông T, bị cáo D dựng lên câu chuyện để n i với ông K số tôn sắt bị cáo định bán là số tôn sắt bị cáo bán cho Công ty Hoàng P - Sài G, nhưng Công ty không thanh toán tiền cho bị cáo, nay bị cáo lấy lại bán để thu hồi nợ, ông K yêu cầu bị cáo D cung cấp hồ s để chứng minh nếu c nguồn gốc rõ ràng thì ông K sẽ mua. Ngày 03/3/2018, bị cáo D mang các giấy tờ bản pho to copy gồm: 01 hợp đồng kinh tế, 01 hợp đồng mua bán tôn sắt, một giấy báo công nợ giữa Công ty TNHH MTV Phan Huệ ong với Công ty Hoàng P - S. Với những tài liệu do bị cáo D đưa cho ông K đồng ý mua sắt c a bị cáo với giá 5.200đồng/kg. ng K yêu cầu bị cáo D liên hệ thuê xe để cẩu và vận chuyển sắt đưa về xã Bình Đ, huyện Ch, tỉnh Tiền Gi, chi phí thuê xe do ông K chịu trách nhiệm chi trả.
Ngày 06/3/2018, xe cẩu do bị cáo D thuê dùm ông Kđến thành phố Trà V, tỉnh T bị cáo D dẫn đường cho xe cẩu đến kho vật liệu c a Công ty Hoàng P - Sài G cẩu lấy tôn sắt. Đồng thời, bị cáo liên hệ với ông K để nhận tôn sắt. Số tôn sắt bị cáo lấy trộm bán cho ông K gồm 11 tấm loại bảng barem, độ dày khoảng 1.2 cm, đặc điểm cụ thể như sau:
01 tấm kích thước chiều ngang 2,09m, chiều dài 3,39m;
01 tấm kích thước chiều ngang 2,01m, chiều dài 6,39m;
01 tấm kích thước chiều ngang 2,01m, chiều dài 5,64m;
01 tấm kích thước chiều ngang 2,01m, chiều dài 6,6m;
02 tấm kích thước chiều ngang 2m, chiều dài 5,71m;
01 tấm kích thước chiều ngang 1,56m, chiều dài 4m;
02 tấm kích thước chiều ngang 1,52m, chiều dài 6m;
02 tấm kích thước chiều ngang 1,99m, chiều dài 1,52m.
Bị cáo D và ông K chuyển số tôn sắt n i trên đến trạm cân Cảng Tiền G cân được 10.830 kg, trừ hao phần đất bám vào sắt 200kg nên số tôn sắt ông Khánh thanh toán cho bị cáo D là 10.630 kg với số tiền 55.276.000đồng, ông K trả tiền chẳn cho bị cáo là 55.300.000đồng. Sau đ , ông K bán tôn sắt lại cho ông Vũ Văn G, ngụ tại Bình T, Trung A, thành phố M, tỉnh Tiền G với giá 7.600 đồng/kg. Sau đ , ông Giao bán lại cho ông Huỳnh Minh T ngụ tại ấp Tân Thuận B, xã Bình Đức, huyện C, tỉnh Tiền Gi với giá 8.400đồng/kg, ông Thuận tiến hành vệ sinh đất bám và cân được 9.730 kg tư ng ứng với số tiền 81.732.000đồng. ng T đưa số tôn sắt n i trên về kho dựa phế liệu tại nhà c a ông Thuận.
Vào khoảng 6 giờ ngày 06/3/2018, ông Cao Quang T cư trú 22/2/16D, đường 21, phường 8, quận Gò V, thành phố Hồ Chí M là người quản lý vật tư xây dựng c a Công ty Hoàng P – Sài G và ông ê Văn Đ, cư trú tại Khu phố 5 Đông B, phường Quảng V, thành phố S, tỉnh Thanh H là cán bộ kỷ thuật c a công ty đến kho để lấy vật liệu xây dựng c a Công ty tại ấp Đầu B, xã H, huyện Châu T, tỉnh Trà V thì phát hiện bị mất trộm 11 tấm sắt, nên trình báo Công an xã Hòa T, huyện Châu T, tỉnh T.
Tại kết luận định giá tài sản ngày 28 tháng 3 năm 2018 c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh T kết luận: Đối với 11 tấm tôn barem bằng kim loại với tổng trọng lượng 10.680 kg nêu trên, c tổng giá trị bằng 121.784.040 đồng.
Tại bản án hình sự s thẩm số: 08/2019/HSST ngày 18/3/2019 c a Tòa án nhân dân huyện Châu T đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hại tù tính từ ngày 01/3/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan không c yêu cầu giải quyết, Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành cho các đư ng sự một vụ kiện dân sự khác nếu c yêu cầu.
Ngoài ra bản án s thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.
Ngày 25/3/2019, bị cáo Phan Văn D kháng cáo bản án s thẩm, xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo.
Cùng ngày 28/3/2019 người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn G, ông Huỳnh Minh Th kháng cáo bản án s thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét buộc bị cáo Phan Văn D trả lại cho ông Thuận số tiền 55.276.000 đồng (năm mư i lăm triệu hai trăm bảy mư i sáu nghìn đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phan Văn D vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án s thẩm thể hiện là đúng. Bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo. Người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn Giao, ông Huỳnh Minh Tgiữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét buộc bị cáo Phan Văn Du trả lại cho ông T số tiền 55.276.000 đồng (năm mư i lăm triệu hai trăm bảy mư i sáu nghìn đồng)
-Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh:
Căn cứ vào chứng cứ c trong hồ s vụ án và tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, xét thấy việc Tòa án cấp s thẩm quy kết bị cáo Phan Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sư năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp với hành vi phạm tội c a bị cáo. Về căn cứ kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không thõa mãn được. Đối với yêu cầu kháng cáo c a người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn G, ông Huỳnh Minh T xét thấy việc mua bán tôn sắt giữa ông G và ông K là hợp đồng dân sự giữa ông G và ông K, không c liên quan đến bị cáo D. Do vậy, việc ông G và ông T yên cầu bị cáo trả lại số tiền bán tôn sắt cho ông T là không phù hợp. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo Phan Văn D và người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn G, ông Huỳnh Minh T. Giữ nguyên bản án hình sự s thẩm c a Tòa án nhân dân huyện Châu T, tỉnh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Đ n kháng cáo c a bị cáo Phan Văn D và người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Văn Giao, ông Huỳnh Minh Thuận là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo th tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo c a bị cáo Phan Văn D. Hội đồng xử án xét thấy: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Phan Văn Du c đầy đ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi c a bị cáo, bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, bởi vì tài sản hợp pháp c a công dân là quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm tài sản c a người khác mà không được sự đồng ý c a ch sở hữu là vi phạm pháp luật. Trong vụ án này bị cáo không những xâm phạm đến tài sản c a người bị hại, mà còn ảnh hưởng đến trật tự xã hội địa phư ng n i bị cáo gây án, làm cho quần chúng nhân dân không an tâm lao động sản xuất, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh nhất là nhiều vụ trộm cắp tài sản c a các công trình xảy ra ngày càng phức tạp trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận vào ngày 06/3/2018 chính bị cáo là người trực tiếp dẫn đường cho xe cẩu vào kho c a Công ty Hoàng Ph - Sài G để lấy trộm tôn sắt . ời khai này phù hợp với những chứng cứ trong hồ s vụ án, phù hợp với lời khai c a phiên tòa s thẩm, nội dung cáo trạng. Xét thấy bị cáo, gây kh khăn cho C quan tiến hành tố tụng khi C quan cảnh sát điều tra công an huyện Châu T, tỉnh T ra Quyết định số 02 ngày 27/12/2018 quyết định truy nã bị cáo (B 269) đến ngày 01/3/2019, bị cáo bị Công an huyện Châu T, tỉnh T bắt bị cáo tại huyện Duyên H, tỉnh T. Từ đ bản án s thẩm quy kết bị cáo phạm tội điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là c căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật. Tòa án cấp s thẩm tuyên phạt bị cáo Phan Văn D 02 (hai) năm tù là đã xem xét đánh giá một cách toàn diện, khách quan tính chất vụ án và hành vi phạm tội c a bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét. Do đ , không c căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo. Giữ nguyên bản án s thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
3 Đối với kháng cáo người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn G, ông Huỳnh Minh T yêu cầu bị cáo Phan Văn D trả lại số tiền 55.276.000đồng mà ông G đã mua tôn sắt c a ông K. Hội đồng xét xử xét thấy việc mua bán tôn sắt giữa ông G và ông K là hợp đồng dân sự giữa ông G với ông K, không có liên quan đến bị cáo D. Do vậy, việc ông K và ông T yêu cầu bị cáo D trả lại số tiền bán tôn sắt cho ông G là không phù hợp. Nên ông G có quyền yêu cầu ông K trả lại số tiền giao dịch dân sự giữa ông G và ông K. Riêng ông Kc quyền yêu cầu bị cáo D hoàn trả lại số tiền giao dịch mua bán tôn sắt giữa ông Kvới bị cáo D. Nhưng tại phiên tòa s thẩm ông K c đ n xin xét xử vắng mặt (B 206, 247) và khi bản án s thẩm dành cho ông K 15 ngày để kháng cáo, đến nay đã hết hạn kháng cáo mà ông K không c yêu cầu gì đối với bị cáo D về số tiền mà ông K đã mua tôn sắt c a bị cáo và ông K không có kháng cáo cũng không có ý kiến gì về việc yêu cầu bị cáo D hoàn trả số tiền 55.267.000đồng mà ông K đã đưa cho bị cáo.
Từ đ , Hội đồng xét xử xét thấy việc kháng cáo c a ông G và ông Tkhông c c sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng ông G và ông T c quyền yêu cầu ông K hoàn trả lại số tiền mà các bên mua bán với nhau bằng một vụ kiện dân sự khác. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không c c sở chấp nhận kháng cáo c a ông G và ông T. Giữ nguyên bản án hình sư s thẩm c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.
Đề nghị c a Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định c a Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5 Về án phí: Do không được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên bị cáo Phan Văn D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh Thuận, ông Vũ Văn Giao phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
U T ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo c a bị cáo Phan Văn D.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự c a người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh T và ông Vũ Văn G.
Giữ nguyên bản án hình sự s thẩm số: 08/2019/HSST, ngày 18/3/2019 c a Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Không chấp nhận yêu cầu c a ông Vũ Văn G và ông Huỳnh Minh T đòi bị cáo Phan Văn D trả 55.276.000đồng (năm mư i lăm triệu hai trăm bảy mư i sáu nghìn đồng) số tiền này nếu c tranh chấp ông T và ông G khởi kiện bằng vụ án dân sự theo trình tự th tục tố tụng dân sự theo quy định c a pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Phan Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. ng Huỳnh Minh T, ông Vũ Văn G mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003171; 0003172 ngày 09/5/2019 c a Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
Các quyết định khác c a bản án s thẩm không c kháng cáo, không bị kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh T; - TAND huyện Châu T - VKSND huyện Châu T; - CA huyện Châu T; - CC THADS huyện Châu T; - Sở Tư pháp; - Bị cáo, các đư ng sự; - ưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Minh Tự |