vanban.org

Bản án 25/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 15/02/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/02/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn N - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật sử…"
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HS-PT
Ngày: 15-02-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch;

Các Thẩm phán:

Ông Lê Quân Vương;

Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Đức Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2019 tại t s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử v án hình sự phúc thẩm th lý số: 209/2018/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Lê Tấn N. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Tấn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.

Bị cáo kháng cáo: Lê Tấn N sinh năm 1988 tại tỉnh An Giang. Hộ khẩu thường t ú: Ấp B, xã B huyện C tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; t ình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn Đ và bà Huỳnh Thị Nh; vợ tên Vũ Thị B, có 02 người con (người con lớn sinh năm 2010 và người con nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/10/2018 cho đến nay; có mặt.

T ong v án còn có 23 người có quyền lợi nghĩa v liên quan không kháng cáo, không bị nghị nên Tòa án không t iệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có t ong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2016 Lê Tấn N được một người không õ nhân thân lai lịch giới thiệu đến gặp Nguyễn Văn O tại số nhà A khu phố H phường T thị xã T tỉnh Bình Dương để làm hồ sơ xin việc; từ đó N biết O nhận làm hồ sơ giả.

Khoảng tháng 02/2017 N biết nhiều người có nhu cầu làm hồ sơ xin việc sau nghỉ tết nên nảy sinh ý định nhận làm giả hồ sơ để có tiền tiêu xài. N đến gặp O và thỏa thuận giá làm giả hồ sơ xin việc là 150.000 đồng/bộ. N thu của người có nhu cầu làm hồ sơ từ 220.000 đồng đến 240.000 đồng. Ngoài hồ sơ xin việc làm N còn thỏa thuận với O làm giả các giấy tờ khác như: Đơn xin xác nhận hạnh kiểm giá 50.000 đồng N thu của người có nhu cầu 70.000 đồng; phiếu khám sức khỏe giá 40.000 đồng N thu 50.000 đồng. N sử d ng số điện thoại 01664.505.765 và 0901.679.326, còn O sử d ng số điện thoại 0937.791.601 liên lạc với nhau.

Sau khi nhận hồ sơ N điều khiển xe môtô biển số 67D1-100.48 đến giao cho O bộ hồ sơ giả gồm: 02 tờ sơ yếu lý lịch 01 tờ đơn xin việc làm 01 tờ đơn xin xác nhận hạnh kiểm đều có dán hình đóng dấu giáp lai xác nhận của chính quyền địa phương còn nội dung để t ống 01 phiếu khám sức khỏe có dán hình được đóng dấu giáp lai và xác nhận của bệnh viện 01 giấy chứng minh nhân dân photo và 01 sổ hộ khẩu photo được chứng thực có xác nhận của chính quyền địa phương còn phần thông tin để t ống.

Khi N đến giao cho O làm giả hồ sơ giấy tờ. Nếu O đi vắng thì Nguyễn Thị H (là vợ của O) sẽ giao nhận. Ngoài a N còn nhận làm dán ép nhựa để thay đổi hình t ên giấy chứng minh nhân dân với giá 20.000 đồng/giấy chứng minh nhân dân; nhận làm giả giấy chứng minh nhân dân photo và sổ hộ khẩu photo có chứng thực với giá 40.000 đồng/bộ. N giao cho O làm giả bằng giá tiền đã nhận N không thu lợi bất chính.

Từ tháng 02/2017 đến ngày 14/3/2018 N đã nhận làm 476 bộ hồ sơ xin việc và giấy tờ giả các loại thu số tiền 93.110.000 đồng N giao cho O số tiền 64.780.000 đồng, N thu lợi bất chính số tiền 28.330.000 đồng. Tuy nhiên công an chỉ thu giữ được 99 bộ hồ sơ giấy tờ giả (t ong đó có một số bộ hồ sơ giấy tờ giả không đề ngày tháng năm; còn lại cùng đề năm 2018). C thể:

1. Nhận dán hình giấy chứng minh nhân dân với giá 20.000 đồng/giấy chứng minh nhân dân cho 45 người thu số tiền là 900.000 đồng và giao lại cho O, N không thu lợi bất chính.

2. Nhận làm giấy chứng minh nhân dân sổ hổ khẩu sao y giá 40.000 đồng/bộ cho 06 người thu số tiền 240.000 đồng và giao lại cho O, N không thu lợi bất chính.

3. Nhận làm giấy xác nhận hạnh kiểm cho 07 người với giá 70.000 đồng thu số tiền 490.000 đồng N giao cho O với giá 50.000 đồng/giấy xác nhận hạnh kiểm số tiền giao là 350.000 đồng N thu lợi bất chính 140.000 đồng.

4. Nhận làm 01 bộ hồ sơ xin việc kèm theo dán ép hình làm thêm 01 giấy xác nhận hạnh kiểm với giá 320.000 đồng/bộ cho 21 người thu 6.720.000 đồng. N giao cho O giá 230.000 đồng/bộ số tiền giao là 4.830.000 đồng và N thu lợi bất chính số tiền 1.890.000 đồng.

5. Nhận làm 01 bộ hồ sơ xin việc kèm theo làm thêm 01 giấy xác nhận hạnh kiểm và 01 giấy khám sức khỏe với giá 340.000 đồng/bộ cho 04 người số tiền thu là 1.360.000 đồng. N giao cho O giá 240.000 đồng/bộ số tiền giao là 960.000 đồng và N thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng.

6. Nhận làm 02 bộ hồ sơ xin việc giá 440.000 đồng/bộ thu số tiền 880.000 đồng. N giao cho O giá 300.000 đồng/bộ số tiền giao là 600.000 đồng N thu lợi bất chính số tiền 280.000 đồng.

7. Nhận làm hồ sơ xin việc với giá 220.000 đồng và dán ép hình với giá 20.000 đồng cho 61 người số tiền thu là 14.640.000 đồng. N giao cho O giá 170.000 đồng/bộ số tiền giao là 10.370.000 đồng N thu lợi bất chính 4.270.000 đồng.

8. Nhận làm hồ sơ xin việc giá 220.000 đồng/bộ cho 299 người số tiền thu là 65.780.000 đồng. N giao cho O giá 150.000 đồng/bộ số tiền giao là 44.850.000 đồng N thu lợi bất chính 20.930.000 đồng.

9. Nhận làm giấy khám sức khỏe giá 50.000 đồng/bộ cho 10 người và 21 giấy khám sức khỏe số tiền thu là 1.050.000 đồng. N giao cho O với giá 40.000 đồng/bộ số tiền giao là 840.000 đồng N thu lợi bất chính 210.000 đồng.

10. Nhận làm hồ sơ xin việc kèm theo làm thêm 01 giấy khám sức khỏe 01 giấy xác nhận hạnh kiểm và dán ép hình giá 350.000 đồng cho 01 người. N giao cho O giá 250.000 đồng/bộ số tiền giao là 350.000 đồng và N thu lợi bất chính 100.000 đồng.

11. Nhận làm 02 giấy xác nhận hạnh kiểm 01 giấy khám sức khỏe và dán ép hình giá 200.000 đồng cho 03 người số tiền thu là 600.000 đồng. N giao cho O với giá 170.000 đồng/bộ số tiền giao là 510.000 đồng N thu lợi bất chính số tiền 90.000 đồng.

12. Nhận làm giấy khám sức khỏe với giá 50.000 đồng cho 02 người thu số tiền 100.000 đồng. N giao cho O giá 40.000 đồng/bộ số tiền giao 80.000 đồng và N thu lợi bất chính 20.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 80/GĐ- C54 ngày 28/3/2018 của hòng K thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Hình dấu t òn t ên các tài liệu cần giám định (99 tài liệu) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

Đối với các đối tượng Nguyễn Văn O và Nguyễn Thị H: Ngày 15/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều t a Công an huyện B ra thông báo t uy tìm đối tượng và thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều t a Công an thị xã T tiếp t c làm õ xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Tấn N phạm tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức”.

Áp d ng điểm a khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Lê Tấn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2018.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 19/11/2018 bị cáo Lê Tấn N làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa t ình bày quan điểm giải quyết v án: Xác định tội danh điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với bị cáo Lê Tấn N là có căn cứ đúng người đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ t ách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Lê Tấn N nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

T ên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu t ong hồ sơ v án đã được t anh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Tấn N được thực hiện t ong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Tấn N đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có t ong hồ sơ. Do đó có đủ cơ s xác định: Bị cáo Lê Tấn N có hành vi làm giả 99 hồ sơ xin việc và các giấy tờ khác thu lợi bất chính 28.330.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nghĩa thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 với tình tiết định khung “Làm giả 06 con dấu tài liệu hoặc giấy tờ khác t lên”.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo N là nghiêm t ọng và nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến t ật tự quản lý hành chính của Nhà nước t ong lĩnh vực quản lý con dấu tài liệu giấy tờ của cơ quan tổ chức; gây mất t ật tự t ị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo N biết õ hành vi làm giả hồ sơ xin việc làm và các giấy tờ khác là t ái pháp luật nhưng vì động cơ tham lam tư lợi nên bị cáo N bất chấp hậu quả cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Bị cáo N có đầy đủ năng lực chịu t ách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật.

Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Tấn N về tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Tấn N. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo N không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ t ách nhiệm hình sự nào mới. Mặc dù gia đình bị cáo đã nộp hết số tiền thu lợi bất chính thay cho bị cáo nhưng đây không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ t ách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó kháng cáo của bị cáo N xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ s chấp nhận.

[5] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo N phải nộp do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ t ên

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tấn N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.

Áp d ng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt: Bị cáo Lê Tấn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2018.

2. T ả lại cho bị cáo Lê Tấn N số tiền 70.000 (bảy mươi ngàn) đồng do bà Lê Thị Ng nộp tiền thu lợi bất chính thay cho bị cáo N còn thừa theo các Biên lai thu tiền số 09097 ngày 16/10/2018 số 08353 ngày 11/01/2019 và số 08355 ngày 30/01/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Tấn N phải nộp số tiền 200.000 (hai t ăm ngàn) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ