vanban.org

Bản án 25/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lương Thị H và anh Nguyễn Văn C.

Về nuôi con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi con Nguyễn Quang Thịnh, sinh năm 2010. Anh C nuôi con Nguyễn Thị Thu Hoài, sinh năm 2014. Chị H, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở các bên thực hiện quyền này. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H, anh C ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lương Thị H và anh Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 23-4-2019
V/v ly hôn giữa chị H và anh C

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hà Bắc;

2. Ông Trương Thanh C.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 577/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1987 “có mặt”

Nơi ĐKHKTT: Xóm C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ cư trú: Xóm D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1980 “vắng mặt”

Địa chỉ cư trú: Xóm C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/11/2018, các lời khai và diễn biến tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lương Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới chị về gia đình anh C làm dâu ngay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu và không tin tưởng nhau nên thường xuyên cãi nhau. Chị và anh C đã sống ly thân từ tháng 11/2018 đến nay, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh C được ly hôn.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Quang Thịnh, sinh năm 2010 và Nguyễn Thị Thu Hoài, sinh năm 2014. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và hiện đang ở với anh C. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con Nguyễn Quang Thịnh và giao cho anh C nuôi con Nguyễn Thị Thu Hoài, chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm việc tại khu công nghiệp Vân Trung, Việt Yên, thu nhập 13-14 triệu đồng/tháng, có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, anh Nguyễn Văn C có hộ khẩu thường trú tại xóm C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được Toà án giao, tống đạt các văn bản tố tụng thông qua ông Nguyễn Duy Phượng, là bố đẻ anh C theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh C không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa, anh C vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, chị H chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, anh C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228, 271, 272 và 273 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H xử cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

Về nuôi con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi con Nguyễn Quang Thịnh, sinh năm 2010. Anh C nuôi con Nguyễn Thị Thu Hoài, sinh năm 2014. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Anh C vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, của BLTTDS xét xử vắng mặt anh C.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị H và anh Nguyễn Văn C đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, nên hôn nhân giữa chị H và anh C là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị H và anh C đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị khởi kiện xin ly hôn anh C. Quá trình giải quyết vụ án anh C không có ý kiến gì. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh C đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn anh C.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống giữa chị H và anh C có 02 con chung là Nguyễn Quang Thịnh, sinh năm 2010 và Nguyễn Thị Thu Hoài, sinh năm 2014. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và hiện đang ở với anh C. Chị H đề nghị được nuôi con Nguyễn Quang Thịnh và cháu Thịnh cũng có nguyện vọng được ở với chị H nên cần căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cho chị H nuôi cháu Thịnh và anh C nuôi cháu Hoài là phù hợp. Chị H, anh C không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228 khoản 4 Điều 147, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lương Thị H và anh Nguyễn Văn C.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi con Nguyễn Quang Thịnh, sinh năm 2010. Anh C nuôi con Nguyễn Thị Thu Hoài, sinh năm 2014. Chị H, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở các bên thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số AA/2017/0003626 ngày 14/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ