vanban.org

Bản án 25/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng : Khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 56 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 điều 68- Bộ luật dân sự.

Về hồn nhân: Chị Dương Thị Ng được ly hôn anh Bùi Văn Đ. Về con Ch: Giao cả 02 cháu Bùi Thị Tố Ng, sinh ngày 17/10/2007 và Bùi Đức Ch, sinh ngày 27/3/2009 cho chị Dương Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ tuổi thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Dương Thị Ng xin ly hôn anh Bùi Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng : Khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 56 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 điều 68- Bộ luật dân sự.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật dân sự xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM THUỶ
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15/11/2019
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường và ông Nguyễn Ngọc Tính

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền - Thư ký TAND huyện Cẩm Thuỷ.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ: Không tham gia

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2019/TLST- HNGĐ, ngày 05/9/2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-DS ngày 14/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST ngày 30/10/2019 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn:

Chị Dương Thị Ngsinh năm 1988

Trú tại: Thôn H, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh hoá. Có mặt. 2. Bị đơn:

Anh Bùi Văn Đ sinh năm 1987

Trú tại: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh hoá. Vắng mặt theo quyết định tuyên bố mất tích số 07/2019/QĐDS-TBMT, ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28/8/2019 và bản tự khai cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Dương Thị Ng trình bày: Chị và anh Bùi Văn Đ kết hôn với nhau ngày 02/01/2007. Hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C huyện C, Thanh Hóa. Cưới xong vợ chồng cùng nhau đi làm ăn ở Đ và đã hai con Ch. Đến đầu năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh Đ có mối quan hệ với người khác. Sau đó, vợ chồng về quê của anh Đ để sống tại thôn 1 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa. Cuối năm 2012, chị đi xuất khẩu lao Đng, anh Đ và hai con vẫn ở quê. Đến năm 2014, chị về nước nhưng vợ chồng đã có mâu thuẫn nên chị và hai con về quê ở thôn H, xã Th, huyện Th, Thanh Hóa để sống. Chị và anh không gặp nhau từ đó, thỉnh thoảng gọi điện thoại. Đến năm 2015, chị và anh không còn liên lạc với nhau nữa. Chị không biết anh Đ làm gì, địa chỉ ở đâu. Gia đình anh Đ cũng không biết anh ở đâu. Tháng 01/2019 chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cẩm thủy giải quyết tuyên bố anh Đ mất tích. Tại QĐ số 07/2019/QDDS-ST ngày 05/7/2019 đã tuyên bố anh Đ mất tích. Nay xét thấy anh Đ bỏ nhà đi thời gian đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, anh Đ đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên chị đề nghị xin được ly hôn anh Đ.

Về con cái: Vợ chồng có 02 con Ch: Bùi Thị Tố Ng, sinh ngày 17/10/2007 và Bùi Đức Ch, sinh ngày 27/3/2009. Hiện nay các con đang ở với chị Ng. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 con, đề nghị Tòa án xem xét.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản Ch, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Văn Đ: Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy đã ra quyết định tuyên bố mất tích số 07/2019/QDDS-ST ngày 05/7/2019.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân giữa chị Dương Thị Ng và anh Bùi Văn Đ là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Đến đầu năm 2012 chị và anh xảy ra mâu thuẫn, năm 2014 chị Ng đã về quê ở huyện Th để sống. Từ năm 2015 chị và anh không còn liên lạc với nhau nữa. Chị không biết anh ở đâu và làm gì, thời gian anh Đ bỏ nhà đi đã lâu nên chị làm đơn đề nghị tuyên bố anh mất tích. Ngày 05/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy đã ra quyết định số 07/2019/QDDS-ST tuyên bố anh Đ mất tích. Nay để đảm bảo quyền lợi của bản thân, chị Ng làm đơn xin ly hôn anh Đ. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 2 điều 56 luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự xử cho chị Ng được ly hôn anh Đ.

Về con Ch: Vợ chồng có 02 con Ch: Bùi Thị Tố Ng, sinh ngày 17/10/2007 và Bùi Đức Ch, sinh ngày 27/3/2009. Chị Ng có nguyện vọng được nuôi cả 02 con. Xét nguyện vọng nuôi con của chị Ng là chính đáng, hiện nay các con đang ở với chị Ng, anh Đ đã bị tuyên bố mất tích. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, nên giao cả 02 cháu Ng và Ch cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ tuổi thành niên là phù hợp. Còn trường hợp khi anh Đ trở về có yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích và có yêu cầu thay đổi nuôi con thì Tòa án sẽ xem xét bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản: Chị Ng không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng : Khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 56 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 điều 68- Bộ luật dân sự. Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hồn nhân: Chị Dương Thị Ng được ly hôn anh Bùi Văn Đ.

Về con Ch: Giao cả 02 cháu Bùi Thị Tố Ng, sinh ngày 17/10/2007 và Bùi Đức Ch, sinh ngày 27/3/2009 cho chị Dương Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ tuổi thành niên.

Về tài sản: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Ng phải chịu 300.000đ án phí DSST, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số AA/2018/0006146 ngày 04/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy. Chị Ng đã nộp đủ án phí DSST.

Chị Ng có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ