vanban.org

Bản án 25/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Trúc L.

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn Nh. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con giữa chị L và anh Nh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Trúc L.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 18-10-2019
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thành Công;

Ông Lê Thành Quý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1996; hộ khẩu thường trú: ấp P 2, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1995; cư trú tại: ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 5 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị Trúc L trình bày:

Về hôn nhân: chị Phạm Thị Trúc L đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Văn Nh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương vào ngày 01 tháng 6 năm 2016 (Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2015). Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Nh có mối quan hệ với người phụ nữ khác, mê chơi game, cờ bạc, không lo làm ăn, anh chị không có tiếng nói chung; dù đã cố gắng hòa giải nhưng anh chị không thể hàn gắn. Anh chị không sống chung với nhau từ tháng 11 năm 2018 đến nay. Chị L nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Nh nên chị L yêu cầu được ly hôn anh Nh.

Về nuôi con chung: chị L và anh Nh có một con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2014. Hiện cháu T đang sống cùng chị L. Chị L yêu cầu được nuôi cháu T và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, nợ chung: chị L không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh Nh đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Nh.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng nhận định:

Về tố tụng: ngày 10 tháng 9 năm 2019, Tòa án triệu tập hợp lệ anh Nh lần thứ nhất để tham gia phiên tòa vào hồi 14 giờ ngày 30 tháng 9 năm 2019, anh Nh vắng mặt không lý do; ngày 02 tháng 10 năm 2019, Tòa án triệu tập hợp lệ anh Nh lần thứ hai để tham gia phiên tòa vào hồi 08 giờ ngày 18 tháng 10 năm 2019, anh Nh cũng vắng mặt không lý do. Do anh Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nh.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân: hôn nhân của chị L và anh Nh là hôn nhân hợp pháp; chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nh có mối quan hệ với người phụ nữ khác, mê chơi game, cờ bạc, không lo làm ăn, vợ chồng không có tiếng nói chung; chị L và anh Nh đã không sống chung với nhau từ tháng 11 năm 2018 đến nay. Theo Biên bản xác minh ngày 05 tháng 8 năm 2019 do Tòa án lập (bút lục số 34a) phù hợp với lời khai của chị L tại Tòa. Xét thấy, chị L và anh Nh là vợ chồng nhưng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau từ tháng 11 năm 2018 đến nay là không thực hiện đúng nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Nh bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu khởi kiện của chị L. Nay, chị L không muốn tiếp tục chung sống với anh Nh nên chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nh theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh Nh đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, quyết định cho chị L và anh Nh ly hôn.

Về nuôi con chung: chị L và anh Nh có một con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2014. Cháu T đang sống cùng chị L; chị L yêu cầu được nuôi cháu T và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của chị L về nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận, anh Nh có trách nhiệm giao cháu T cho chị L trực tiếp nuôi. Chị L không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản, nợ chung: chị L và anh Nh không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Trúc L.

- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn Nh.

- Về nuôi con chung:

Anh Nguyễn Văn Nh có trách nhiệm giao con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2014 cho chị Phạm Thị Trúc L trực tiếp nuôi, chị Phạm Thị Trúc L không yêu cầu anh Nguyễn Văn Nh cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về chia tài sản, nợ chung: chị Phạm Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn Nh không tranh chấp nên không giải quyết.

2. Về án phí: chị Phạm Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Phạm Thị Trúc L đã nộp theo biên lai số AA/2016/0021055 ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương. Chị Phạm Thị Trúc L đã nộp xong án phí.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ