vanban.org

Bản án 25/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 15/02/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thùy L được ly hôn với anh KBT.

Về con chung và tài sản chung: Chị L và anh KBT không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thùy L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng ) án phí ly hôn sơ thẩm . Nhưng được trừ vào số tiề n ta … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thùy L - Anh KBT"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thùy L được ly hôn với anh KBT.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/HNGĐ-ST
Ngày 15-02-2019
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Biên

Ông Nguyễn Đức Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 15 tháng 02 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 345/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thùy L, sinh năm 1996; nơi cư trú: ĐKHKTT: DĐ, huyện TT, tỉnh TB; hiện trú tại: TDP HQ, thị trấn MĐ, huyện TN, thành phố Hải Phòng;

- Bị đơn: Anh KBT, sinh năm 1975; hiện trú tại: HQ.

Chị L, anh KBT vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn Chị Bùi Thùy L trình bày:

Chị L và anh KBT kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 19 tháng 01 năm 2018. Sau khi kết hôn anh chị nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh KBT không quan tâm tới chị L, hay ghen tuông, thường xuyên uống rượu. Từ nguyên nhân trên dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Mặc dù đã được gia đình và bạn bè chị L khuyên bảo nhưng không có kết quả. Bản thân anh KBT không thay đổi nên mâu thuẫn không thể khắc phục. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh KBT.

Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đơn xin ly hôn, đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt (đã hợp pháp hóa lãnh sự) anh KBT thống nhất trình bày về điều kiện kết hôn, lý do xin ly hôn, con chung và tài sản chung như chị L đã trình bày.

Do anh KBT ở nước ngoài nên theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa cả chị L và anh KBT vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị L và anh KBT kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 19 tháng 01 năm 2018. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Cả chị L và anh KBT đều có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn, anh KBT hiện đang cư trú ở nước ngoài nên theo khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Bùi Thùy L và anh KBT vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh KBT.

. Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn anh chị nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh KBT không quan tâm tới chị L, hay ghen tuông, thường xuyên uống rượu, dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Mặc dù đã được gia đình và bạn bè chị L khuyên bảo nhưng không có kết quả. Bản thân anh KBT không thay đổi nên mâu thuẫn không thể khắc phục. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh KBT là hoàn toàn chính đáng. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thùy L và anh KBT đã thực sự không còn yêu thương nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần áp dụng Điều 51, Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đề nghị ly hôn của chị L.

. Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng thống nhất trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thùy L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Bùi Thùy L và anh KBT được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thùy L được ly hôn với anh KBT.

2. Về con chung và tài sản chung: Chị L và anh KBT không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thùy L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng ) án phí ly hôn sơ thẩm . Nhưng được trừ vào số tiề n ta ̣m ứ ng án

̀ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001547 ngày 10 tháng 01 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng . Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Chị Bùi Thùy L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

- Anh KBT được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ