vanban.org

Bản án 25/2019/DSPT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QDKNPT-VKS-DS ngày 10/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Th1, anh Nguyễn Văn Kh. Sửa bản án sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình. Cụ thể: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức T, bà Đinh Thị H, ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Đức T - Nguyễn văn Th1"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QDKNPT-VKS-DS ngày 10/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình.
  • Căn cứ chính? Điều 12 Luật Đất đai; Điều 174 Bộ luật Dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/DS-PT
Ngày 21-6-2019
V/v Tranh chấp ngõ đi chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Th Hà.

Các Thẩm phán:

Bà Lương Hả i Yế n.

Bà Đỗ Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Th Bình: Bà Vũ Thị Lan Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Th Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2019/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp ngõ đi chung”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DS -ST ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2019/QĐPT-DS ngày 27 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

+ Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1955 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1959; nơi cư trú: đườ ng L, tổ 08, phường T, thành phố H B, tỉnh Hòa Bình.

+ Anh Vũ Văn Th, sinh năm 1973 và chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1975; nơi cư trú: khu K, thị trấn H N, huyện H H, tỉnh Thái Bình.

+ Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; nơi cư trú: khu K, thị trấn H N, huyện H H, tỉnh Thái Bình.

Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ông Nguyễ n Văn Phò ng : Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; nơi cư trú : khu K, thị trấn H N, huyện H H, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: + Ông Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1940.

+ Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1963.

Đề u cư trú tạ i: khu K, thị trấn H N, huyện H H, tỉnh Thái Bình.

Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ông Nguyễ n Văn Th1: Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1963; nơi cư trú : khu K, thị trấn H N, huyện H H, tỉnh Thái Bình.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1940.

+ Chị Nguyễn Thị Ch, sinh năm: 1968

Đề u cư trú tạ i: khu K, thị trấn H N, huyện H H, tỉnh Thái Bình.

+Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn Tú, chứ c vụ : Chủ tịch UBND thị trấn Hưng Nhân.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quang Tứ, chứ c vụ : Phó chủ tịch UBND thị trấn Hưng Nhân.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Th1 và anh Nguyễn Văn Kh - là bị đơn.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

(Ông T, bà H, anh Th, bà L, anh Kh có mặt tạ i phiên tò a; chị T1, ông Ph, ông Th1, bà Đ, chị Ch vắ ng mặ t tại phiên tòa; ông Tứ có văn bả n đề nghị Tò a á n xé t xử vắ ng mặ t)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà , tỉnh Thái Bình, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, các nguyên đơn là là ông Nguyễn Đức T, bà Đinh Thị H, ông Nguyễn Văn Ph, bà Nguyễn Thị L, anh Vũ Văn Th và chị Đỗ Thị T1 trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

Ba hộ gia đình ông Nguyễn Đức T cùng vợ Đinh Thị H, ông Nguyễn Văn Ph vợ là Nguyễn Thị L, anh Vũ Văn Th vợ là chị Đỗ Thị T1, mỗi hộ gia đình đều sử dụng 01 thửa đất ổn định ở khu Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân. Các hộ gia đình sinh sống trên các thửa đất đều chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đều có 01 ngõ đi chung ra đường 39A (Ngõ đi không có diện tích, và có chiều dài, chiều rộng trong bản đồ). Do điều kiện kinh tế nên cả 03 hộ gia đình đi làm ăn xa, vài ba tháng mới về quê một lần, hộ gia đình ông Nguyễn Văn Th1 có diện tích đất tiếp giáp với ngõ đi chung của 03 hộ.

Theo bản đồ 299 đo đạ c từ năm 1982 Đ năm 1986, và sổ mục kê lưu trữ tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân thì ông Nguy ễn Văn Th1 đứ ng tên sử dụ ng thửa đấ t số 539 có diện tích 415 m2, thửa đất 539 hoàn toàn không tiếp giáp trực tiếp với đường 39A như bây giờ. Ngày 01/5/1995, gia đì nh ông Nguyễn Văn Th1 tiến hành đổi đất với gia đình ông Trần Đăng Khôi. Đ khi đo đạ c bả n đồ năm 2007 đối với thửa đất mà ông Nguyễn Văn Th1 đứng tên, ông Th1 có ký vào bộ hồ sơ kỹ thuật thửa đất 74 có diện tích 448,3 m2 đất.

Khoảng tháng 4 năm 2017, gia đình ông Nguyễn Văn Th1 và anh Nguyễn Văn Kh là con trai ông Th1 xây dựng tường bao kiên cố dọc theo ngõ đi chung của 03 hộ gia đình và lấn ra đất của ngõ đi chung, diện tích chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 50 cm Đ 60 cm, kéo dài hơn 30m (trước đây cây cột điện của thôn nằm ở ngoài ngõ xóm, nay cây cột điện nằm trong tường bao khuôn viên đất hộ gia đình ông Th1). Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất 74, tờ bản đồ địa Chh số 4, chủ sử dụng ông Nguyễn Văn Th1 có chiều ngang mặt đường giáp đường 39A là 8,05m (đo đạc hiện trạng năm 2007), nay các hộ gia đình đo là 8,5m; Phía Tây giáp nhà ông Ph, bà L có chiều dài là 20,41m nay đo là 20,63 m.

Ngoài ra giữa gia đình ông Phòng , bà Láng với gia đình ông Th1 có tranh chấp quyền sử dụng đất và đã đượ c giải quyết tại bản án số 27/2018/DS-PT ngày ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉ nh Thá i Bì nh xác định gia đì nh ông Th1 đã xây tườ ng bao sang thử a đấ t 76 của gia đình ông Phòng là 7,8 m2. Ranh giới giữa thửa đất 76 của gia đình ông Phòng và thửa đất 74 của gia đình ông Th1 được phân định bằng bức tường bao dài 20,63m. Thửa đất 74 của gia đình ông Th1 có sự biến động, phía Bắc giáp nhà ông Thắng dài thêm 0,76 m, phía Nam giáp ngõ đi chung dài thêm 0,77 m, diện tích đã tăng thêm 7,8 m2.

Việ c gia đình ông Th1, anh Kh lấ n chiế m ngõ đi chung ảnh hưởng Đ quyền và lợi ích của 03 hộ gia đình nguyên đơn. Ngày 27/4/2018, các nguyên đơn đã nộ p đơn khở i kiệ n yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t

: Buộ c ông Nguyễ n Văn Th1 và anh Nguyễ n Văn Khả i phả i trả lại diện tích đã lấn chiếm là hơn 10 m2, chiều dài phần đất lấn chiếm là 31m, chiều rộng phần đất lấn chiếm giáp đường 39A là 0,53m, chiều giáp nhà ông Ph, bà L hơn 0,1m và phải phá dỡ bức tường xây trên diện tích đã lấn chiếm. Sau khi xem xé t , thẩ m đị nh cá c nguyên đơn bổ sung yêu cầ u kh ởi kiệ n yêu cầ u ông Th1, anh Khả i phả i thá o dỡ tườ ng trả ra ngõ đi chung diệ n tí ch đấ t là 11,85 m2.

* Bị đơn là ông Nguyễ n Văn Th1, anh Nguyễ n Văn Khả i trình bày và có quan điể m như sau:

Hộ gia đình ông Th1, anh Khả i hiện đang sinh sống trên thửa đất 74, tờ bản đồ địa Chh số 4, tại khu Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình. Theo đo đạc hiện trạng năm 2007 thử a đấ t số 74 có diện tích là 448,3 m2. Nguồ n gốc đấ t, do ông Th1 mua một căn nhà kèm theo đất của UBND xã Lam Sơn từ năm 1963, kèm theo cả ngõ đi. Ban đầu ngõ đi chỉ rộng 70 cm, có thời kỳ gia đình ông Th1 còn hiến đất cho xóm để làm ngõ đi chung; ngoài ra gia đình ông Th1 còn đổi đất với hộ gia đình ông Khôi thửa số 539 và 540). Vào khoảng tháng 5/2016 thì gia đình ông Th1, anh Khả i xây nhà trên diện tích đất trên. Đ tháng 11 năm 2016, thì xây tường bao quanh khuôn viên đất, xây đúng điện tích đất, thời gian từ khi xây bức tường Đ khi hoàn thiện tường bao là khoảng 08 tháng. Từ khi xây xong Đ khi hoàn thiện không có ai trong xóm cũng như các hộ gia đình liền kề và Chh quyền thôn, xã có ý kiến gì. Đ khi công trình đưa vào sử dụng được vài tháng thì gia đình ông Th1, anh Khả i nhận được giấy báo của Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân gọi lên để hòa giải vì có người khởi kiện gia đình ông Th1, anh Khải lấn chiếm ngõ đi chung. Khi gia đình ông Th1, anh Khải lên trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân đề hòa giải thì được nghe nội dung công bố kết quả đo đạc của đoàn kiểm tra xác định ngõ đi vẫn rộng 2,3 m, ô tô chở vật liệu xây dựng vẫn đi vào bình thường, Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân kết luận vẫn giữ nguyên hiện trạng và các hộ gia đình ông T, ông Ph và anh Th đều nhất trí ký vào biên bản.

Nay 03 hộ gia đình các nguyên đơn khởi kiện gia đình ông Th1, anh Khả i về hành vi lấn chiếm ngõ đi chung và yêu cầu hộ gia đình ông Th1, anh Khả i phải tháo dỡ bức tường bao đã xây, quan điểm của ông Th1 và anh Kh như sau: Ông Th1, anh Khả i xác định khi xây tường bao (chiều cao của tường là 3,1 m; chiều dài bức tường rào giáp ngõ đi là hơn 30 m; giá trị bức tường khoảng 150 triệu đồng) không lấn chiếm, xây thẳng với bức tường của hộ gia đình ông Ph bà L, có thể khi xây, gia đình sơ xuất không chú ý nên đội thợ xây lấn ra ngõ xóm. Nếu gia đình ông Th1, anh Khả i có xây tườ ng ra ngõ đi chung thì diện tích lấn chiếm là rất nhỏ, không ảnh hưởng Đ sinh hoạt của các hộ gia đình nên đề nghị Tòa án để ông Th1, anh Khả i tự giải quyết với Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân và anh Khải tự nguyện đóng góp 100.000.000 đồ ng để là m ngõ đi chung . Ông Th1 và anh Khả i không chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a cá c nguyên đơn.

* Nhữ ng ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đến (vợ ông Th1) và chị Nguyễn Thị Chín (vợ anh Khả i ): Đều trình bày và có quan điểm thố ng nhấ t vớ i quan điể m của ông Th1, anh Kh đã trình bày.

* Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân trình bày và có quan điể m: Diện tích đất ngõ đi đang có tranh chấp từ trước Đ nay vẫn là ngõ đi chung do nhà nước quản lý. Theo bản đồ 299/TTg năm 1985 và đo đạc hiện trạng năm 2007 vẫn thể hiện là ngõ đi chung không thuộc quyền sử dụng riêng của hộ gia đình hay cá nhân nào. Khi xây dựng tường bao mặt tiếp giáp với ngõ đi chung của 03 hộ gia đình ông T, ông Ph và anh Th thì hộ gia đình ông Th1, anh Kh không xin cấp phép xây dựng của Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân. Do vậy hộ gia đình ông Th1 và anh Kh xây tường bao Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân không biết. Chỉ khi các hộ gia đình có chung ngõ đi làm đơn đề nghị UBND thị trấn Hưng Nhân giải quyết với nội dung hộ gia đình ông Th1 và anh Kh xây tường bao lấn chiếm ra ngõ đi chung thì Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân mới triệu tập các hộ gia đình lên trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn. Nếu gia đình ông Th1 lấn đất thì yêu cầu ông Th1, anh Kh trả lại diện tích lấn đất cho UBND thị trấn Hưng Nhân và tự tháo dỡ công trình trên diện tích lấn chiếm đất.

Tại bản án số 12/2018/DS-ST ngà y 26/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà , tỉnh Thái Bình đã xử:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tô tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 3 Điều 174, Điề u 175 và Điề u 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 118 Luật Xây dựng; khoản 1 Điều 12, Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản1, 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T, bà Đinh Thị H, ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Thị L, anh Vũ Văn Th và chị Đỗ Thị T1.

2. Xử buộc ông Nguyễn Văn Th1 và anh Nguyễn Văn Kh phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

- Phải trả lại cho Ủy ban nhân dân thị trần Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình 11,85 m2 đất giao thông (ngõ đi chung) tại khu Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình. Tứ cạnh có độ dài như sau: Phía Đông có chiều dài 0,53 m giáp với đường Quốc lộ 39A; phía Tây có chiều dài 0,22 m giáp với thửa đất ông Ph, bà L; phía Nam có chiều dài 31,62 m giáp với đất ngõ đi chung (đất giao thông); phía Bắc có chiều dài 31,6 m giáp với thửa đất 74 nhà ông Th1;

- Phải phá dỡ 01 bức tường rào trên phần đất 11,85 m2, có chiều đo: chiều cao: 3,1m; chiều dài 3 1,6m.

Ngoài ra án sơ thẩ m còn tuyên về việc thi hành án dân sự, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.

- Ngày 03/12/2018, ông Nguyễn Văn Th1 và anh Nguyễn Văn Kh có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngà y 10/12/2018 đề nghị hủy bản án sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngà y 23/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩ m vì cá c lý do:

+ Về tố tụ ng : Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ bức tườ ng bao trả lại diện tích đất lấn chiếm ngõ đi chung là tranh chấp về đất đai nên bắ t buộ c phả i qua hò a giả i tạ i cơ sở , nhưng cá c biên bả n hò a giả i củ a UBND thị trấ n Hưng Nhân đề u không có đạ i diệ n Ủ y ban Mặ t trậ n Tổ quố c thị trấ n Hưng Nhân tham gia. Do đó chưa đủ điề u kiệ n khở i kiệ n theo quy đị nh tạ i điể m b khoả n 1 Điề u 192 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự . Trong hồ sơ vụ á n chưa có tà i liệ u nà o xá c đị nh các nguyên đơn không yêu cầu Ủy ban nhân dân giải quyết tranh chấp nhưng Tò a án vẫn tiến hành thụ lý , giải quyết vụ án là không đúng hướng dẫn tại Điề u 4 Nghị quyế t số 04/2017/NQ-HĐTP ngà y 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tố i cao.

+ Về nộ i dung : Việ c Tò a á n chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a các nguyên đơn dự a và o kế t quả xem xé t , thẩ m đị nh tạ i chỗ để so sá nh vớ i hồ sơ kỹ thuậ t thử a đấ t số 74, tờ bả n đồ 4 đo đạ c năm 2007 tại khu Kiều Thạch thị trấn Hưng Nhân mang tên ông Nguyễ n Văn Th1 xác định diện tích thử a đấ t củ a ông Th1 hiệ n nay lớ n hơn diệ n tí ch đã đo đạ c năm 2007 và khẳng định phần diện tí ch đấ t chênh lệ ch là do lấn vào đường ngõ xóm là chưa đủ căn cứ . Vì Tòa án chưa làm rõ gia đình ông Th1 có tranh chấp và lấn chiếm đất của các hộ liền kề khác không . Mặ t khá c, lố i đi chung không thể hiệ n số đo cụ thể ở

bấ t kỳ mộ t văn bả n đo đạ c nà o , nên không thể khẳ ng đị nh đ ược phầ n diệ n tí ch chênh lệ ch là do gia đình ông Th1, anh Khải lấn vào ngõ xóm.

+ Vụ án đ ược xét xử vào 02 ngày là ngày 23/11/2018 và ngày 26/11/2018, tuyên á n ngày 26/11/2018 nhưng lạ i xá c đị nh ngày ra bả n á n là ngà y 23/11/2018 là không đú ng quy đị nh tạ i Điề u 266 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự .

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn là anh Kh đồ ng thờ i là ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ông Th1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày trướ c đây ngõ đi chung rấ t chậ t , ông Th1 đã đứ ng ra xin UBND thị trấ n mộ t phầ n đấ t để là m ngõ đi mớ i rộ ng như hiệ n nay, không có tà i liệ u đị a chí nh nà o thể hiệ n diệ n tí ch và chiều rộng của ngõ đi chung là bao nhiêu, diệ n tí ch đấ t củ a cá c hộ gia đì nh tạ i khu Kiề u Thạ ch hiệ n nay so vớ i đo đạ c trướ c đây đề u tăng lên do sai về đo đạ c. Khi xây dự ng tườ ng bao gia đì nh anh Khả i không có ý đị nh lấ n chiế m đấ t , xây dựng trên nền móng tường cũ , thẳng vớ i bứ c tườ ng nhà ông Phò ng , không ả nh hưở ng đế n ngõ đi chung . Vì vậy, Tòa án sơ thẩm xác định gia đình anh Khải xây t ường lấ n ra ngõ đi chung là không có căn cứ . Bứ c tườ ng có giá trị lớ n , liên quan đế n đườ ng cố ng thoá t nướ c thải và đườ ng điệ n ngầ m trong tườ ng để nố i đè n bả o vệ trên tườ ng . Anh Khả i đề nghị Tò a án giao cho gia đình ông Th1, anh Khả i tiế p tụ c sử dụ ng diệ n tí ch đấ t 11,85 m2, khi nào UBND thị trấ n Hưng nhân có nhu cầ u sử dụ ng thì sẽ trả lạ i.

- Các nguyên đơn vẫ n giữ nguyên yêu cầ u khở i kiệ n và trì nh bà y không phả i ông Th1 xin đấ t để mở rộ ng ngõ như anh Khả i trì nh bà y . Theo bả n đồ đo đạ c năm 2007 thì chiều mặt đường nhà ông Th1 chỉ có 8,05 m đế n nay là 8,58 m, phía giáp nhà bà Láng trướ c đây là 20,41 m nay là 20,63 m, phía giáp vớ i nhà nhà ông Khôi và nhà ông Thắng không có tranh chấp gì. Các nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân đân huyện Hưng Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Th Bình vẫn giữ nguyên kháng nghị và quan có điểm như sau:

Về tố tụ ng : Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nộ i dung: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là có căn cứ , tuy nhiên Tò a á n nhân dân huyệ n Hưng Hà đã có quyế t đị nh sử a, chữ a, bổ sung bả n á n đí nh chí nh lạ i ngà y ban hà nh bả n á n và Tòa án cấp phúc thẩm đã khắc phục thu thập bổ sung các chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập . Vì vậy, việ c Tò a á n cấ p sơ thẩ m xá c đị nh bị đơn lấ n chiế m 11,85 m2 ngõ đi chung là có căn cứ , nên việ c bị đơn khá ng cá o là không có căn cứ và không chấ p nhậ n việc đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a UBND thị trấ n Hưng Nhân đề nghị tạ m giao 11,85 m2 đấ t cho bị đơn tiế p tụ c sử dụ ng. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụ ng:

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 10/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà và Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Th1, anh Nguyễn Văn Kh nộp ngày 03/12/2018 tại Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà là trong hạn luật định; ông Th1 và anh Kh đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét thấy , nguyên đơn là chị Đỗ Thị T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đến và chị Nguyễ n Thị Chí n đã đượ c Tò a á n triệ u tậ p hợ p lệ đế n lầ n thứ ba nh ưng vắ ng mặ t không có lý do ; nguyên đơn là ông Nguyễ n Văn Phò ng, bị đơn là ông Nguyễn Văn Th1 đã đượ c Tò a á n triệ u tậ p hợ p lệ đến lần thứ ba nhưng vắ ng mặ t, ông Phò ng có văn bản ủ y quyề n cho bà L áng tham gia tố tụ ng , trong giai đoạ n xé t xử sơ thẩ m ông Th1 cũng đã có văn bản ủy quyề n cho anh Khả i tham gia tố tụ ng ; đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a UBND thị trấ n Hưng Nhân có đơn đề nghị T òa án xét xử vắng mặt . Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắ ng mặ t nhữ ng ngườ i nêu trên là phù hợ p vớ i quy đị nh tạ i khoả n 3 Điề u 296 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự .

Về quyề n khở i kiệ n : Các nguyên đơn khởi kiện cho rằ ng bị đơn đã xây dự ng tườ ng bao lấ n chiế m ra ngõ đi chung mà cá c nguyên đơn đang sử dụ ng , ảnh hưở ng đế n quyề n lợ i trự c tiế p củ a cá c nguyên đơn nên yêu cầ u bị đơn phả i thá o dỡ tườ ng trả lạ i đấ t lấ n chiế m ra ngõ đi chung . Vì vây, việ c Tò a á n sơ thẩ m xá c đị nh các nguyên đơn có quyền khởi kiện và đã thụ lý , giải quyết yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là phù hợ p vớ i quy đị nh tạ i khoả n 9 Điề u 26 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự và điể m b khoả n 2 Điề u 203 Luậ t đấ t đai năm 2013.

*Về nộ i dung : Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà và kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn Th1, anh Nguyễ n văn Khả i.

Xét thấy, trướ c khi nộ p đơn khở i kiệ n tạ i Tò a á n thì UBND thị trấ n Hưng Nhân đã 02 lầ n tiế n hà nh việ c hò a giả i việ c tranh chấ p ngõ đi chung giữ a cá c nguyên đơn và bị đơn, trong thà nh phầ n tham gia việ c hò a giả i có đại diện khu dân cư Kiều Thạch có ông Nguyễn Quang Toán , chứ c vụ : Bí thư chi bộ khu Kiề u Thạch. Tại công văn số 08/CV-UB ngày 20 tháng 3 năm 2019 của UBND thị trấn Hưng Nhân gử i Tò a á n xác nhậ n ông Nguyễn Văn Toán là Bí thư chi bộ kiêm chức danh là Trưởng ban công tác mặt trận khu dân cư Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân. Vì vậy, việ c UBND thị trấ n Hưng Nhân tiế n hà nh hò a giả i tạ i cơ sở đủ thành phần theo quy đị nh của Luật đất đai. Sau khi hò a giả i tạ i UBND thị trấ n Hưng Nhân không thà nh, các nguyên đơn lự a chọ n nộ p đơn khở i kiệ n tạ i Tò a á n , nên việ c Tòa án nhân dân huyệ n Hưng Hà thụ lý vụ án là đủ điều kiện khởi kiện , đú ng thẩ m quyề n theo quy định tại tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà cũng đã có Quyết định đính Chh về ngày ban hành bản án đú ng quy đị nh tạ i Điề u 266 Bộ luậ t Tố tụng dân sự.

Theo cá c tà i liệ u đ ịa chính do UBND thị trấ n Hưng Nhân cung cấ p thể hiệ n: Căn cứ và o bả n đồ 299 đo đạ c năm 1985 và sổ mục kê đấ t đai thì ông Nguyễ n Văn Th1 đứ ng tên sử dụ ng thửa đấ t số

539 có diện tích 415 m2. Đế n ngà y 01/5/1995, gia đì nh ông Th1 có thỏa thuận đổi một phần diện tích đất của thửa 539 lấ y diệ n tí ch đ ất tạ i thử a 540 của gia đì nh ông Trầ n Đăng Khôi , vớ i nộ i dung ông Th1 được sử dụng diện tích đất của ông Khôi là 32 m2 (chiều dài mặt đường 39 là 08 m, chiều rộng là 04 m), ông Khôi được sử dụng phần đất của ông Th1 là 113,5 m2 (chiều giáp với phần đất của ông Khôi phía mặt đường 39 là 10 m, chiều từ giáp đất nhà ông Khôi Đ mép tường phía Tây nhà tắm cách bể ông Th1 0,4 m là 11,5 m), diện tích đất ông Th1 giảm đi là 81,5 m2. Đ khi đo đạ c bả n đồ năm 2007, đấ t của ông Th1 là thửa số 74 tờ bả n đồ số 4 khu Kiề u Thạ ch, theo hồ sơ kỹ thuậ t thử a đấ t số 74 mà ông Th1 đứng tên có diện tích 448,3 m2, có kích thước: Phía Đông dài 10,88 m + 8,05 m giáp đấ t ông Khôi và đường 39A; phía Tây giáp đất ông Phòng dài 7,18 m + 13,23 m; phía Nam giáp ngõ đi chung dài là 28,65 m + 5,6 m; phía Bắc giáp đất ông Thắng và đất ông Khôi dài 12,92 m + 15,49 m + 5,86 m. Theo công văn số 08/CV-UB ngày 20 tháng 3 năm 2019 của UBND thị trấn Hưng Nhân xác định mốc giới, ranh giới diện tích đất của gia đình ông Th1, anh Kh với diện tích đất của gia đình ông Thắng và gia đình ông Khôi không có tranh chấp. Như vậ y, diệ n tí ch đấ t củ a gia đì nh ông Th1 không bị tranh chấ p về mố c giớ i phí a Bắ c giáp nhà ông Thắng và nhà ông Khôi , phía Đông giáp nhà ông Khôi và giáp đường 39 A không bị Nhà nướ c thu hồ i khi mở rộ ng đườ ng 39 A.

Xét thấy , theo bả n á n số 27/2018/DS-PT ngà y 09/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉ nh Thá i Bì nh đã quyế t đị nh giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m số 05/2018/DS-ST ngà y 13/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà , trong đó xác định gia đì nh ông Th1 đã xây dự ng tườ ng bao sang thử a đấ t số 76 tờ bả n đồ số 4 của gia đì nh ông Phò ng vớ i diệ n tí ch là 7,8 m2, ông Th1 đượ c sử dụ ng diệ n tí ch đấ t 7,8 m2 nêu trên và phải thanh toán giá trị diện tích đất 7,8 m2 cho gia đì nh ông Phò ng. Như vậy, diện tích thửa đất của gia đình ông Th1 tăng thêm 7,8 m2 và có ba cạnh: Phía Tây giáp đất ông Ph dài 20,63 m; phía Bắc giáp đất ông Thắng dài thêm 0,76 m và phía Nam giáp ngõ đi chung dài thêm 0,77m. Căn cứ vào bản án số 27/2018/DS-PT ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và kế t quả xem xé t , thẩ m đị nh ngà y 07/8/2018 thì ông Th1, anh Kh đang sử dụng hiện trạng thửa đất tại khu Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân có kích thước : Phía Đông dà i 10,88 m + 8,58 m giáp đấ t ông Khôi và đường 39A; phía Tây giáp đất ông Phòng dài 20,63 m; phía Nam giáp ngõ đi chung dài 35,02 m (trong đó chiều dài bức tường là 31,61 m); phía Bắc giáp đất ông Thắng và đất ông Khôi dài 13,68 m + 21,35 m. So với hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 74 tờ bản đồ số 4 khu Kiều Thạch đo đạc năm 2007 thì hiện trạng diện tích thửa đất của ông Th1 tăng lên, trong đó kích thước cạnh phía Đông thửa đất của ông Th1 đang sử dụng giáp đường 39 A dư ra 0,53 m (8,58 m - 8,05 m) và chiều phía Tây thửa đất của ông Th1 đang sử dụng giáp đất ông Ph dư ra 0,22 m (20,63 m - 20,41 m).

Qua xem xét thẩm định thì chiều ngang của ngõ đi phía Đông tiếp giáp đường 39 A là 2,29 m và phía Tây tiếp giáp nhà ông Ph là 2,82 m. Xét thấy, tuy các tài liệu địa Chh các thời kỳ không thể hiện diện tích và kích thước cụ thể của ngõ đi chung mà 03 hộ gia đình nguyên đơn đang sử dụng, nhưng qua xem xét hình thể ngõ đi theo bản đồ 299 thì phía Đông tiếp giáp đường 39 A rộng hơn so với chiều ngang phía Tây của ngõ và loe ra về phía thửa đất 539 của ông Th1 và thửa 540 của ông Khôi. Còn đo tỷ lệ trên bản đồ địa Chh lập năm 2007 thì chiều ngang của ngõ đi phía Đông tiếp giáp đường 39 A và chiều ngang phía Tây của ngõ đi có số đo tương đương nhau. Trong khi đó các nguyên đơn cho rằng mốc giới bức tường cũ của nhà ông Th1 phía ngoài tiếp giáp đường 39 A là phía trong cột điện và phía trong thẳng với bức tường nhà ông Ph, nhưng hiện nay trên thực tế thì cột điện ở phía trong bức tường nhà ông Th1 và phía tiếp giáp nhà ông Ph thì bức tường của nhà ông Th1 thò ra cột cách tường. Như vậy, hiện trạng hình thể ngõ đi hiện nay có chiều ngang phía giáp đường 39 A nhỏ hơn chiều ngang phía Tây bên trong ngõ đi, nguyên nhân là do hiện trạng đất ông Th1 đang sử dụng có sự thay đổi về kích thước cạnh phía Đông giáp đường 39 A dư ra 0,53 m và cạnh phía Tây dư ra 0,22 m như đã nêu trên.

Anh Kh cho rằng hiện trạng đất của gia đình tăng lên so với đo đạc trước đây là do sai về đo đạc, người đại diện theo ủy quyền của UBND thị trấn Hưng Hà cũng có văn bản đề ngày 14/6/2019 cho rằng diện tích đất hiện tại của nhiều hộ gia đình trên địa bàn tăng lên so với bản đồ 299 hoặc số đo năm 2007 có thể do trước đây đo bằng thủ công, sau này đo bằng máy độ Chh xác cao hơn. Xét thấy, việc tăng diện tích đất giữa đo bằng máy và đo đạc bằng tay có thể xảy ra, nhưng chỉ được chấp nhận khi mốc giới thửa đất không có sự thay đổi. Nên quan điểm cho rằng diện tích đất của ông Th1 hiện nay tăng lên so với các số liệu đo đạc trước đây là do sai số đo đạc là không có căn cứ, vì mốc giới đất nhà ông Th1 phía tiếp giáp ngõ đi chung có sự thay đổi như đã phân tích ở phàn trên.

Hội đồng xét xử thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Th1, anh Kh đã xây tường bao lấn ra ngõ đi chung diện tích 11,85 m2 và buộc phải tháo dỡ bức tường trên diện tích đất lấn chiếm là có căn cứ. Xét việc anh Kh đề nghị Tòa án giao cho ông Th1 và anh Kh tiếp tục sử dụng diện tích đất lấn chiếm này, Hội đồng xét xử thấy mặc dù đại diện theo ủy quyền của UBND thị trấn Hưng Nhân có văn bản đề nghị Tòa án xem xét tạm giao diện tích đất 11,85 m2 cho gia đình ông Th1 và anh Kh tiếp tục sử dụng, khi nào Nhà nước có nhu cầu sử dụng vào công việc xây dựng công trình an ninh quốc gia hoặc công trình phúc lợi công cộng, UBND thị trấn Hưng nhân yêu cầu gia đình ông Th1 phải thực hiện việc phá dỡ bức tường và trả lại diện tích đất nói trên theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy diện tích đất trên trước khi bị ông Th1 và anh Kh lấn chiếm, đã được sử dụng làm ngõ đi chung của các hộ gia đình các nguyên đơn, nên việc tạm giao cho gia đình ông Th1 và anh Kh tiếp tục sử dụng diện tích đất lấn chiếm ngõ đi chung là không phù hợp với quy định của Luật đất đai, nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị này của anh Kh. Nhưng xét thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Th1 và anh Kh phải trả lại cho UBND thị trấn Hưng Nhân diện tích đất lấn chiếm là không phù hợp với quy định của Luật đất đai, số liệu kích thước diện tích đất lấn chiếm cũng chưa Chh xác. Do đó, cần phải sửa án sơ thẩm buộc ông Th1 và anh Kh phải tháo dỡ bức tường trả ra ngõ đi chung diện tích đất 11,85 m2 mới đảm bảo quyền lợi của những người sử dụng ngõ đi chung.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhận dân huyện Hưng Hà về việc hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm; cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông Th1, anh Kh sửa án sơ thẩm theo hướng phân tích nêu trên.

Về án phí: Do cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, nên ông Nguyễn Văn Th1, anh Nguyễn Văn Kh không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 174, Điều 175 và Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 27, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QDKNPT-VKS-DS ngày 10/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Th1, anh Nguyễn Văn Kh. Sửa bản án sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình. Cụ thể:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức T, bà Đinh Thị H, ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Thị L, anh Vũ Văn Th và chị Đỗ Thị T1:

Xử buộc ông Nguyễn Văn Th1 và anh Nguyễn Văn Kh phải phá dỡ 01 bức tường có chiều cao 3,1m và chiều dài 31,61m để trả lại diện tích đất 11,85 m2 cho ngõ đi chung (Ngõ đi chung mà gia đình ông Nguyễn Đức T và bà Đinh Thị H, gia đình ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Thị L, gia đình anh Vũ Văn Th và chị Đỗ Thị T1 đang sử dụng) tại khu Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình; có kích thước như sau:

- Phía Đông dài 0,53 m giáp với đường Quốc lộ 39A;

- Phía Tây dài 0,22 m giáp với thửa đất ông Ph, bà L;

- Phía Nam dài 31,60 m giáp với đất ngõ đi chung;

- Phía Bắc có chiều dài 31,61 m giáp với thửa đất 74 nhà ông Th1.

(Có sơ đồ cụ thể kèm theo)

3. Về chi phí tố tụng: Xử buộc ông Nguyễn Văn Th1 và anh Nguyễn Văn Kh phải hoàn trả cho ông Nguyễn Đức T chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

4. Về án phí:

- Ông Nguyễn Đức T, bà Đinh Thị H, ông Nguyễn Văn Ph, bà Nguyễn Thị L, anh Vũ Văn Th và chị Đỗ Thị T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông T, bà H, ông Ph, bà L, anh Th và chị T1 số tiền 1.800.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại các Biên lại thu tiền tạm ứng án phí số 0005165 ngày 07/5/2018 và số 0005222 ngày 22/6/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình.

- Ông Nguyễn Văn Th1, anh Nguyễn Văn Kh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng mà ông Th1 và anh Kh đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm sang thi hành án phí dân sự sơ thẩm; trả lại ông Th1 và anh Kh số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại các Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005300 và 0005299 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Th Bình.

5. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 21/6/ 2019.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./

Cỡ chữ