vanban.org

Bản án 25/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 04/04/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Mai Thị Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 25/2019/DS-PT
Ngày 04-4-2019
V/v tranh chấp “Bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNTỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hồng Thanh

Bà Võ Thị Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Ông Trần Vũ Tính - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 04 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2019/TLPT-DS ngày 17 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã N, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 49/2019/QĐPT-DS ngày 13 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Mai Hùng D, sinh năm: 1959 (Có mặt)

1.2. Bà Trương Thị L, sinh năm: 1960 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Số nhà 350, khu vực 5, phường L1, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Bà Mai Thị Đ, sinh năm: 1955 (Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 348, đường 30/4, khu vực 5, phường L1, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

3. Người kháng cáo Bà Mai Thị Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Đồng nguyên đơn ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L trình bày: Vào ngày 06/7/2018 ông D đi vắng thì bà Mai Thị Đ dùng búa đập phá hàng rào nhà ông D, bà L diện tích 1,5m x 2,5m. Lúc đập phá có bà L và con trai Mai Ngọc A chứng kiến. Hàng rào được xây dựng vào năm 2012, xây bằng gạch ống, có trụ đá xây dựng từ mí lộ chạy vào 11m, cao 1,5m nhưng bà Đ chỉ đập từ mí nhà bà Đ cao 1,5m dài 2,5m. Trước đây, khi xây dựng hàng rào bà Đ có thưa nhưng chính quyền cho xây và đã sử dụng từ năm 2012 cho đến nay. Giữa ông D, bà L và bà Đ không thỏa thuận được giá trị tài sản gây thiệt hại.

Theo kết quả định giá của Công ty cổ phần thẩm định giá thống nhất giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.868.000 đồng, ông D, bà L thống nhất với kết quả định giá trên nhưng chỉ yêu cầu bà Đ bồi thường thiệt hại là 1.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Mai Thị Đ trình bày: Bà thừa nhận vào ngày 06/7/2018 bà có dùng búa đập phá hàng rào của gia đình ông D, bà L, lúc đập phá có bà L và con trai là ông A chứng kiến. Lý do bà đập phá là do ông D, bà L xây dựng hàng rào trên phần đất của bà. Khi xây dựng bà có ngăn cản và báo chính quyền địa phương. Giữa bà, ông D, bà L không thỏa thuận giá trị tài sản bị thiệt hại. Theo kết quả định giá của Công ty cổ phần thẩm định giá thống nhất giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.868.000 đồng bà không có ý kiến. Nhưng ông D, bà L yêu cầu bồi thường thiệt hại 1.000.000 đồng bà không đồng ý do bà không có sai trái.

Người làm chứng ông Mai Ngọc A (Đ1) trình bày: Ông là con ruột của ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L và là cháu của bà Mai Thị Đ vào ngày 06/7/2018 ông có chứng kiến hàng rào nhà mình do bà Đ dùng búa đập phá.

Tại bản án sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L. Buộc bị đơn bà Mai Thị Đ phải bồi thường thiệt hại tài sản do phá vỡ hàng rào cho các nguyên đơn ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí; chi phí tố tụng; quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ của người phải thi hành án khi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018, bị đơn bà Mai Thị Đ có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang yêu cầu: Không đồng ý bồi thường cho nguyên đơn tổng số tiền 1.000.000đồng theo bản án sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Không đồng ý bồi thường thiệt hại với số tiền 1.000.000 đồng cho ông D và bà L, bà Đ cho rằng ông D, bà L xây dựng hàng rào từ năm 2012 và bà cũng thừa nhận bà có đập hàng rào của ông D, bà L vì xây dựng trên phần đất của bà thuộc thửa 606.

Tại phiên tòa các nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bà Đ bồi thường cho các nguyên đơn số tiền 1.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm từ giai đoạn thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem là hợp lệ.

Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L khởi kiện bà Mai Thị Đ bồi thường số tiền thiệt hại tài sản là 1.000.000đồng. Lý do vào ngày 06/7/2018 bà Đ dùng búa đập phá hàng rào của gia đình ông D, bà L kích thước 1,5m x 2,5m. Theo kết quả thẩm định giá của Công ty cổ phần thẩm định giá thống nhất tài sản bị thiệt hại có giá trị là 1.868.000đồng nhưng ông D, bà L chỉ yêu cầu bà Đ bồi thường là 1.000.000đồng. Đồng thời, bị đơn bà Mai Thị Đ cũng thừa nhận có đập phá hàng rào của gia đình ông D, bà L. Bà Đ cho rằng ông D xây dựng hàng rào trên phần đất tại thửa 606 thuộc quyền sử dụng đất của bà nên bà dùng búa đập phá hàng rào của gia đình ông D, bà L. Tuy nhiên, bà Đ không khởi kiện ông D, bà L về tranh chấp quyền sử dụng đất để xác định ông D và bà L có thật sự xây dựng hàng rào trên đất của bà hay không mà tự ý đập phá hàng rào là không đúng, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Tại phiên tòa, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên xét kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại tòa, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Mai Thị Đ nên bà Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Mai Thị Đ.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L.

2. Buộc bị đơn bà Mai Thị Đ phải bồi thường thiệt hại tài sản do phá vỡ hàng rào cho các nguyên đơn ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

3. Về chi phí đo đạc, thẩm định giá: Bà Mai Thị Đ phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nộp tại chi Cục thi hành án dân sự. Nguyên đơn ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L được nhận lại tiền tạm ứng chi phí đo đạc, thẩm định giá số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) khi bà Đ nộp Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Nguyên đơn ông Mai Hùng D và bà Trương Thị L được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015159, ngày 02/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Mai Thị Đ phải chịu 300.000đồng. chuyển số tiền 300.000đồng bà Đ đã nộp theo biên lai thu số 0019002 ngày 16/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 04/4/2019.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

Cỡ chữ