vanban.org

Bản án 25/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 21/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 0,1132 gam Hêrôin cùng vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu. (vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/02/2018 giữa Cơ quan CSĐT công an Tp Ninh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 25/2018/HSST
Ngày: 21-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tử Lượng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Oanh và bà Phạm Thị Ngọc Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hương – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Mạnh C sinh năm 1992, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm N, thôn Tr Trữ, xã N, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị Ch; có vợ là Hoàng Thị L và 01 con; tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định số 08/QĐ-TA ngày 24/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, áp dung biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng; bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 01/01/2018 cho đến nay. (có mặt)

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Thế C sinh năm 1981; nơi cư trú: Phố T, phường Th, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Ông Trương Sỹ Q sinh năm 1941; nơi cư trú: Phố Ng, phường Th, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Mạnh C là người nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 21/12/2017, C thuê xe ôm đi từ nhà sang khu vực đầu cầu Non Nước thuộc xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây, C gặp và hỏi mua ma túy của một nam thanh niên không quen biết đứng ven bờ đê, nam thanh niên này nói cũng đang tìm mua ma túy. C nhờ nam thanh niên mua hộ ma túy, nam thanh niên đồng ý và nhận của C 200.000 đồng rồi gọi điện cho ai đó. Sau khi gọi điện xong, nam thanh niên bảo C ngồi sau xe mô tô của anh ta để chở sang Ninh Bình mua ma túy. Khi đi đến khu vực Trạm xá phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình, nam thanh niên bảo C đứng đợi rồi điều khiển xe mô tô đi mua ma túy. Khoảng 5 phút sau nam thanh niên quay lại đưa cho C 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và bảo đi lấy lại tiền thừa rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. C cầm bao thuốc lá mở ra xem thì thấy bên trong có một gói Heroin nên C cầm trên tay trái còn vỏ bao thuốc lá C bỏ trong túi áo khoác bên trái, ngay lúc đó thì bị tổ công tác Công an phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình đang làm nhiệm vụ tại khu vực yêu cầu kiểm tra, do sợ hãi C ném gói ma túy vừa mua xuống đường ngay tại vị trí đứng. Tổ công tác đã phát hiện thu giữ, kiểm tra gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc, mặt ngoài màu trắng mặt trong màu vàng bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, C khai nhận đó là ma túy vừa mua về sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong gói ma túy của C trong một phong bì thư dán kín; sau đó, đưa C cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Thanh Bình lập biên bản vi phạm hành chính. Tại công an phường Thanh Bình, C đã tự giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng.

Cân chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Lê Mạnh C có trọng lượng là 0,165 gam, ký hiệu M gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 251/KLGĐ-PC45-MT ngày 22/12/2017 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M có khối lượng 0,1677 gam gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng danh mục I, số thứ tự 20; Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định 0,1132 gam mẫu chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ghi số 251/2017/GĐMT.

Về nguồn gốc số ma túy: C khai nhờ một nam thanh niên không quen biết mua hộ, nhưng không biết nam thanh niên đó mua ma túy ở đâu, họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể như thế nào, chỉ biết nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, không nhớ BKS, nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và số ma túy còn lại là 0,1132 gam cùng vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để xử lý cùng vụ án.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 05.02.2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, truy tố Lê Mạnh C ra trước Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Mạnh C từ 15 - 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01.01.2018.

- Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và số ma túy còn lại là 0,1132 gam cùng vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì, chỉ xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai tại phiên toà của bị cáo Lê Mạnh C đúng như nội dung cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản vi phạm hành chính, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong cân xác định trọng lượng vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 20 phút ngày 21/12/2017 tại ngõ 127, đường Nguyễn Công Trứ, phố Vạn Xuân 2, phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình, bị cáo Lê Mạnh C có hành vi cất giữ trái phép 01 gói Hêrôin có khối lượng 0,1677 gam, với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ Hêrôin là chất ma tuý bị Nhà nước cấm tàng trữ nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi cất giữ trái phép 0,1677 gam Hêrôin của bị cáo Lê Mạnh C đã phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ mà còn là nguyên nhân phát sinh của nhiều tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Sử dụng ma túy để lại hậu quả xấu cho sức khoẻ của con người và cộng đồng, tiêu tán tài sản, phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đình. Để bảo đảm trật tự xã hội, bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là rất cần thiết.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về nhân thân: Bị cáo nghiện ma túy, đã có một lần bị xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng không từ bỏ được ma túy, vẫn tiếp tục sử dụng.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo Lê Mạnh C một mức hình phạt thoả đáng, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện, học tập, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Theo khoản 1 Điều 249, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, nhẹ hơn so với mức hình phạt tù được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (từ 02 năm đến 07 năm); Tại thời điểm xét xử, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành, để thực hiện chính sách hình sự mới, nhân đạo của Nhà nước về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội, cần áp dụng quy định tại điểm điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và số ma túy do cơ quan giám định hoàn lại là 0,1132 gam Hêrôin cùng vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo mức án phí được quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Mạnh C 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/01/2018.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 0,1132 gam Hêrôin cùng vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu.

(vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/02/2018 giữa Cơ quan CSĐT công an Tp Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự Tp Ninh Bình)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Mạnh C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày tuyên án (21/3/2018).

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự)

Cỡ chữ