- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thúc Đ - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH! TỈNH!NAM!ĐỊNH! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:25/2018/HSST Ngày: 09-02-2018 |
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH!TỈNH!NAM!ĐỊNH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Hùng
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà:Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại Nhà văn hóa Thượng Lỗi 2 phường Lộc Vượng thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thúc Đ, sinh năm 1978 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp 05/12;dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Huy L (đã chết) và bà: Dương Thị K, sinh năm 1948;chưa có vợ con; tiền án, tiền sự:không; nhân thân: ngày 17-4-1995 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và cảnh cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”; ngày 15-7-1997 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 12-5-1999 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” và 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 03-12-2003 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30-10-2006 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đều đã được xóa án tích; tháng 4 năm 2013 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng; bị bắt,tạm giữ ngày 24-11-2017, sau đó chuyển tạm giam ngày 03-12-2017;có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Dương T, anh Đặng Quang T (không triệu tập tham gia phiên tòa; vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ45 phút ngày 24-11-2017, tại khu vực trước cửa số B đường T, phường T, thành phố N, tổ công tác của Công an phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định kiểm tra,thu giữtrên tay phải Vũ Thúc Đ 01 gói ni lông màu xanh, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng, Đ khai là Heroine. Tổ công tác đã mời người làm chứng, tiến hành thu giữ, niêm phong số ma túy, đưa Đ về trụ sở Công an phường Năng Tĩnh lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 930/GĐKTHS ngày 28-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,107 (không phẩy một không bảy) gam.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Thúc Đ đã khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 24-11-2017, Đ đi bộ từ nhà đến khu vực A thành phố N mua của một thanh niên không rõ lai lịch100.000 đồngđược 01 gói Heroinemục đích để sử dụng. Đ cầm gói ma túy trên tay phải đi về đến khu vực trước cửa số nhà C đường T thành phố N thì bị phát hiện thu giữ.
Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 22-01-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Vũ Thúc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tạikhoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Thúc Đ khai: Ngày 24-11-2017, bị cáo đến A đường P, phường T, thành phố N mua của một thanh niên không rõ lai lịch 01gói ma túy với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng, khi bị cáo đi đến trước cửa số D đường T, phường T, thành phố N thì bị phát hiện thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1Điều 194, điểm p khoản 1Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999,Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015;xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thúc Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24-11-2017, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroine có khối lượng0,107 (không phẩy một không bảy) gamvới mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Vũ Thúc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106,Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thúc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Thúc Đ 27 (hai mươi bảy)tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 24-11-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 930/GĐKTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04-01-2018).
3. Án phí: Bị cáo Vũ Thúc Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Thúc Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:! - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; ! - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. ! ! !!!!CÁC!HỘI!THẨM!NHÂN!DÂN! ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! Nguyễn!Thị!Diện! HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TOẠ!PHIÊN!TOÀ! ! ! ! ! ! Nguyễn!Thị!Diện! |