- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 25/2018/HSST Ngày: 27/6/2018 V/v Nguyễn Văn L phạm tội TCTS |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn phong.
2. Ông Vũ Minh Đoan.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Hưng Vân - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Phùng Thế Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 05 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/HSST-QĐ ngày 11/6/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L (tên gọi khác: Tam Mao ), sinh năm 1987; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện X, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Nguyễn Văn N và bà Hoàng Thị T; Có 02 anh chị em ruột: Bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Lê Thị H và có 03 con: Lớn 08 tuổi, nhỏ 3 tuổi; Tiền án, tiền sự: không (Theo danh chỉ bản số 201 lập ngày 04/4/2018 tại Công an huyện Phú Xuyên và lý lịch bị can); Nhân thân: Năm 2011 bị can bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số 1 Hà Nội đến ngày 22/6/2013 thì trở về địa phương. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2018 đến nay.
Người bị hại: Anh Đỗ Văn G, sinh năm1986; HKTT và nơi ở: thôn T, xã T, huyện X, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1985; HKTT: Thôn T, xã H, huyện X, thành phố Hà Nội
Bị cáo có mặt, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 01/4/2018, Nguyễn Văn L đi ăn tết thanh minh ở nhà bà ngoại về bằng chiếc xe đạp của mẹ đẻ là bà Hoàng Thị T. Khi đi qua nhà anh Đỗ Văn G ở cùng thôn, L nhìn thấy chiếc xe máy Airblade màu đỏ BKS 29Y7 - 055.26 là tài sản Thuộc sở hữu của anh G, đang dựng trước cửa nhà, khóa xe vẫn cắm ở ổ điện, thì L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Quan sát không thấy ai, L nhanh chóng lên xe, mở khóa điện, điều khiển xe ra khỏi nhà anh G và bỏ lại chiếc xe đạp ở đây. L chạy xe xuống phố Guột, vào quán của anh Nguyễn Tiến Đ, ăn chơi đến 14 giờ cùng ngày, khi thanh toán hết 5.000.000 đồng, không có tiền thanh toán L đã “cầm cố” luôn chiếc xe máy cho anh Nguyễn Tiến Đ và nói với anh Đ là xe máy của gia đình. Sau đó L bắt xe tắc xi về nhà em gái trú nhờ. Khi phát hiện mất xe và biết L cầm cố xe ở quán anh Đ, anh G đến chuộc lại xe với giá 5.000.000 đồng. Đến ngày 03/4/2018 L bị Công an huyện Phú Xuyên bắt giữ.
Tại biên bản kết luận định giá tài sản ngày 06/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Phú Xuyên kết luận chiếc xe máy Airblade BKS 29Y7 – 055.26, có số khung 0991723, số máy 214915, xe đã qua sử dụng giá trị còn lại là 19.000.000 đồng.
Đối với chiếc xe đạp của bà Hoàng Thị T mà bị cáo bỏ lại nhà anh G, cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp cho bà T.
Tại cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 28/05/2018, VKSND huyện Phú Xuyên truy tố Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như kết luận điều tra và cáo trạng nêu. Bị cáo khai, do cần tiền tiêu xài nên đã trộm cắp chiếc xe máy Airblade BKS 29Y7 – 055.26 của bị hại vào chiều ngày 01/4/2018 và đem đến cầm cố cho anh Đ lấy 5.000.000 đồng để tiêu xài, bị cáo đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát huyện Phú Xuyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1 điều 51 và các qui đinh khác của Bộ luật hình sự để xử phạt Nguyễn Văn L từ 15 -18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn nhận tội và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tung: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được T thập tại hồ sơ, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 00 ngày 01/4/2018, Nguyễn Văn L đã thực hiện vụ trộm cắp chiếc xe máy hiệu Airblade BKS29Y7 – 005.26, có giá trị 19.000.000 đồng, Thuộc sở hữu của anh Đỗ Văn G tại thôn Từ Tận, xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, với mục đích đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố bị cáo, về "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Quá trình thực hiện tội phạm, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc cất giữ, quản lý, bảo vệ tài sản, lén lút chiếm đoạt mang đi tiêu thụ để có tiền tiêu xài cá nhân. Xét bị cáo có nhân thân xấu, đã từng nghiện ma túy và bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nhưng khi trở về địa phương, không những không tu chí làm ăn mà lại lao vào con đường phạm tội, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo cải tạo, giáo dục bị cáo khắc phục sai phạm, cũng như để răn đe phòng ngừa chung
Xét bị cáo thành khẩn khai báo, mà áp dụng điểm s khoản 1 điều 52 BLHS giảm nhẹ phần nào hình phạt.
Bị cáo chưa có gia đình, làm nghề nông, thu nhập thấp nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với Nguyễn Tiến Đ đã đồng ý nhận cầm xe để thanh toán tiền ăn uống của bị cáo, Đ không biết đây là tài sản do phạm tội trộm cắp mà có, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp
Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe máy Airblade BKS29Y7 – 005.26 đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, anh G không có yêu cầu gì, Tòa không xét. Riêng số tiền 5.000.000 đồng anh G chuộc xe của anh Đ, về mặt pháp luật đây là không hợp pháp, song cả phía anh Đ và anh G đề nghị được tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa xét, Tòa không xét .
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điều 38; điểm i,s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Nguyễn Văn L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (03/4/2018).
- Áp dụng Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc được niêm yết tại nơi cư trú. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về phần quyền lợi có liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc được niêm yết tại nơi cư trú
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Phú Xuyên; - Công an huyện Phú Xuyên; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên; - Sở Tư pháp - UBND xã Vân Từ - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | (Đã ký) Nguyễn Văn Quang |