vanban.org

Bản án 25/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 22/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; các Điều 20, 33, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 16/02/2018. [2]. Về xử lý vật chứng: Tài sản đ được thu hồi trả lại cho bị hại xong nên không đặt ra xử lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoàng B - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; các Điều 20, 33, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 20 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2018/HS-ST
Ngày: 22/6/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nguyên Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trƣớc

2. Ông Lê Việt Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Hồ Tuấn Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/6/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2018/TLST-HS, ngày 26/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXXST-HS, ngày 04/6/2018 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng B, sinh ngày 29/9/1990; nơi cư trú: Số 36D, Nguyễn Văn L , khóm A, phường B, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hoàng A và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1990 (xin vắng)

Địa chỉ: p Phú Hưng, x Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn D, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: p An Thạnh A, x Bình N, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

+ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1971 (có mặt)

Địa chỉ: Số 59B, khóm A, phường B, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

+ Anh Nguyễn Phú Q, sinh năm 1978 (có mặt)

Địa chỉ: Số 70/22, Lê Thị Hồng Gấm, phường C, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 60C, ấp Tân H, x Tân H, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19/11/2016, Phạm Hoàng B điều khiển xe mô tô (chưa rõ biển số) chở Nguyễn D và Nguyễn Phú Q điều khiển xe mô tô mang biển số 64G1-174.38 chở Nguyễn Văn Q cùng lưu thông trên Quốc lộ 1A theo hướng Cần Thơ – Vĩnh Long. Khi đến đoạn đường trước cổng Khu công nghiệp Hòa Phú thì D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài nên kêu B và Q dừng xe tại đây để đi bộ vào khu vực Khu công nghiệp Hòa Phú tìm tài sản trộm cắp. Biết được ý định của D nên Q cùng Duy đi vào trong khu vực Khu công nghiệp, còn Qvà Bở ngoài đợi.

D và Q đến quán ăn 179 thuộc ấp Phước H, x Hòa P, huyện Long Hồ thấy quán không đóng cửa, bên trong quán mọi người đ ngủ nên Duy đi vào trong quán lấy trộm 01 xe mô tô Airblade 64B1 – 404.29 của anh Huỳnh Ngọc T dẫn ra ngoài. Do xe vừa trộm được không có chìa khóa nên Q ngồi trên xe để Q vừa điều khiển xe 64G1 – 174.38 vừa dùng chân đẩy xe 64B1 – 404.29 cùng cả nhóm đi về hướng Thị trấn Long Hồ.

Trên đường đi D và B thuê xe ô tô taxi Mai Linh (loại xe 07 chỗ) do anh Nguyễn Tấn Đ điều khiển để chở xe 64B1 – 404.29 vừa trộm. Anh Đ không biết do xe trộm cắp mà có nên đồng ý chở thuê. D và B ngồi trên xe taxi chạy đến nhà anh Nguyễn Văn P tại ấp 1, x Mỹ Y, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Tại đây, D và B với anh P thỏa thuận mua bán xe với giá 5.700.000 đồng. Số tiền bán xe B, D, Q và Q chia nhau tiêu xài.

Theo kết luận định giá số 147/HĐ ngày 03/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ xác định xe mô tô Airblade mang biển số 64B1 – 404.29 của anh Huỳnh Ngọc T trị giá 28.693.000 đồng.

- Tại Cáo trạng số: 18/CT-VKS, ngày 26/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long truy tố Phạm Hoàng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999.

- Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình và cho rằng không quen biết với Nguyễn D, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Phú Q và cũng không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 19/11/2016.

- Tại phiên tòa, Nguyễn D, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Phú Qđều khai nhận cùng với Phạm Hoàng B thực hiện lấy trộm 01 xe mô tô Airblade 64B1 – 404.29 của anh Huỳnh Ngọc T và sau đó D và B là người trực tiếp đem đi bán rồi cùng nhau chia tiền.

- Bị hại Huỳnh Ngọc T xin vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm vì đ nhận lại tài sản xong. Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo do Hội đồng xét xử quyết định.

- Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Hoàng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; các Điều 20, 33, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, đề nghị tuyên phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 16/02/2018.

Về xử lý vật chứng: Tài sản đ được thu hồi trả lại cho bị hại xong nên không đặt ra xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện là hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cho đến tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận cùng với Nguyễn D, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Phú Q đến địa điểm quán ăn 179 thuộc ấp Phước H, x Hòa P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long để thực hiện lấy trộm 01 xe mô tô Airblade 64B1 – 404.29 của anh Huỳnh Ngọc T.

Tuy nhiên, căn cứ vào các biên bản hoạt động điều tra như: Biên bản đối chất giữa Phạm Hoàng B với Nguyễn D, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Phú Q, bản ảnh nhận dạng đối tượng, lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp với nhau, không mâu thuẫn.

Như vậy, đ có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19/11/2016, tại ấp Phước H, x Hòa P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, Phạm Hoàng B cùng với Nguyễn D, Nguyễn Phú Q, Nguyễn Văn Q lấy trộm xe mô tô hiệu Arblade biển số 64B1 – 404.29 của anh Huỳnh Ngọc T trị giá 28.693.000 đồng. Sau đó, bị cáo B và D thuê xe taxi chở xe vừa mới trộm đến ấp 1, x Mỹ Yên, huyện Bến Lức, tỉnh Long An bán lại cho Nguyễn Văn P với giá 5.700.000 đồng.

Với các tình tiết đ được chứng minh tại phiên tòa, đ có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Hoàng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999. Đối với hành vi phạm tội của Nguyễn D, Nguyễn Phú Q, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn P đ xét xử xong bằng một bản án đ có hiệu lực pháp luật.

Đối với vụ việc xảy ra vào khoảng 01 giờ ngày 12/11/2016, tại ấp Tân T, x Tân H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn D khai thực hiện trộm 01 cây mai vàng bề hoành 35cm, cao 65cm của anh Nguyễn Hồ L trị giá 4.700.000 đồng. Nguyễn D cho rằng thực hiện vụ trộm cùng với Nguyễn Văn Q, Nguyễn Phú Q và Phạm Hoàng B. Tuy nhiên, Q, Q và B không thừa nhận và đây là lời khai duy nhất của D, nên chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q, Q và B, đồng thời hành vi của Nguyễn D đ xét xử xong bằng một bản án đ có hiệu lực pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương. Khi thực hiện hành vi trộm, bị cáo B tự nhận biết được ý định cùng đồng bọn tham gia thực hiện, nhưng chưa có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ và chỉ là đồng phạm giản đơn. Mặc dù, bị cáo B không thừa nhận tội nhưng đ có đủ cơ sở để chứng minh bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức tích cực.

Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục để có đủ thời gian bị cáo cải tạo, sửa chữa trở thành người tốt, có ích cho x hội và qua đó nhằm đấu tranh ngăn chặn và phòng ngừa chung cho x hội.

Về xử lý vật chứng: Tài sản đ được thu hồi trả lại cho bị hại xong nên không đặt ra xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy đĩnh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; các Điều 20, 33, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 16/02/2018.

[2]. Về xử lý vật chứng: Tài sản đ được thu hồi trả lại cho bị hại xong nên không đặt ra xử lý.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[4]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Hoàng B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ