- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số: 17/2018/HSST ngày 11/7/2018 Hồ Sỹ H và Lê Hữu T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2018/HSST. Ngày: 28/8/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG -TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Cảnh;
2. Ông Phan Đình Toàn;
- Thƣ ký phiên toà: Ông Phan Đình Mão – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Kbang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện K tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Khanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/8/2018, tại Hội trường xét xử TAND huyện Kbang, TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2018/HSST ngày 11/7/2018 đối với các bị cáo:
1. Hồ H, sinh ngày 29/11/1998; Sinh tr quán: Tổ dân phố (TDP) 14, thị trấn K, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; tiền án, tiền sự: Không; Con ông Hồ Sỹ M và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư tr , có mặt tại phiên tòa.
2. L H u T, sinh ngày 25/2/1991; Sinh tr quán: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; tiền án, tiền sự: Có 02 tiền án về tội trộm c p tài sản chưa đư c xóa án t ch. Con ông Lê H u M và bà Nguyễn Thi H; v là Hồ Thị T; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư tr , có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bị hại: Công ty trách nhiệm h u hạn (TNHH) Thảo Nguyên Xanh (sau đây gọi t t là Công ty Thảo Nguyên Xanh);
Địa chỉ: TDP 14, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân L, sinh năm 1961, là Phó Giám đốc Công ty.
Địa chỉ: TDP 13, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (v ng mặt).
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:
- Ông Hồ Sỹ M, sinh năm 1972;
Địa chỉ: TDP 14, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (có mặt).
- Ông Lê H u C, sinh năm 1986;
Địa chỉ: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (v ng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 09 4 2018, tại nhà Hồ Sỹ H TDP 14, thị trấn K có H c ng với v chồng em gái là Hồ Thị Th và chồng là Lê H u T. H rủ T đi đ n xư ng g Công ty Thảo Nguyên Xanh để trộm c p g về bán lấy tiền tiêu xài, Trung đồng ý nên cả hai đi theo đường mòn trong vườn ph a sau nhà H đ n xư ng (cách nhà Hưng khoảng 100m). L c này đã h t ca nên công nhân của xư ng đã ra về h t, các cổng ra vào đều đóng, H và T đi bên ngoài tường rào nhìn vào xư ng phôi thấy đống g có nhiều hộp g x đã bào, quan sát thấy b c tường ph a b c xư ng có ô rào lưới B40. H nói T đó chờ để mình về nhà lấy kìm c t lưới B40, H về nhà lấy 01 chi c kìm s t, loại kìm bấm quay lại c m kìm c t lưới B40 nhưng không đư c. Thấy v y T bảo đưa kìm để T c t cho, H đưa kìm cho T, T đã sử dụng kìm bấm c t đ t t ng s i dây thép lưới B40. C t khoảng 15 ph t thì lưới B40 đ t ra thành một khoảng trống rộng 30cm x cao 70cm, sau đó cả hai chui vào trong đi đ n nơi đống g đã bào, vác m i người 01 hộp g đưa ra ngoài qua l lưới v a c t rồi quay lại vác ti p 2 l n n a đư c 06 hộp g thì nghỉ về nhà H ăn cơm.
n cơm xong khoảng 20 giờ, cả hai lại ti p tục vào xư ng lấy g đưa qua l lưới B40 đã c t đư c 22 hộp g n a, tổng cộng là 28 hộp. Sau đó cả hai về nhà H lấy m i người 01 xe mô tô ch g về để sân nhà Trung tại TDP 2, thị trấn K, ch nhiều chuy n (m i người ch m i chuy n đư c 03 hộp g ). Đ n 02 giờ sáng ngày 10 4 2018 thì ch h t xong H về nhà ngủ và T c ng đi ngủ. Đ n khoảng 08 giờ c ng ngày, một mình T vác đống g trộm c p ra cất giấu vườn sau b p nhà T, lấy tấm bạt phủ lên.
Sáng ngày 10 4 2018, ông Trịnh Đ c N là bảo vệ xư ng g phát hiện thấy có dấu v t k gian c t rào B40 vào xư ng trộm c p g nên đã báo lãnh đạo Công ty, sự việc sau đó đư c trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện. Cơ quan điều tra đã ti n hành khám nhiệm hiện trường, xác minh, truy tìm v t ch ng cho đ n 21 giờ 30 ph t c ng ngày thì phát hiện thu gi đư c toàn bộ tang v t g trộm c p tại vườn sau b p nhà Lê H u T. Ngày 11 4 2018, Hồ Sỹ H đ n Cơ quan điều tra Công an huyện đ u th , ngày 12 4 2018 Lê H u T c ng ra đ u th .
uá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm gi phương tiện 02 chi c xe mô tô hiệu DAM SAN biển số: 77M9-6212 và hiệu DETECH biển số 81S1-2460, 01 chi c kìm s t dài 20cm cán bọc nhựa màu vàng và 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77)m.
Căn c K t lu n giám định tài sản số: 16/KL-HĐĐG ngày 13 4 2018 của Hội đồng định giá tài sản TTHS huyện Kbang xác định: 21 hộp g x -Hoàng t ng (2,1m x 5cm x 35cm) khối lư ng 0,771m3 trị giá là 4.993.650đ, 07 hộp g x Cảng lò (2,1m x 5cm x 35cm) khối lư ng 0,257m3 trị giá là 1.130.250đ, tổng cộng 28 hộp g có khối lư ng 1,028m3 trị giá là: 6.123.900 đồng.
Do xe mô tô hiệu DAM SAN biển số: 77M9-6212 là của anh Lê H u C (anh trai Lê H u T), xe mô tô hiệu DETECH biển số 81S1-2460 là xe của ông Hồ Sỹ M (bố Hồ Sỹ H), T và H tự lấy sử dụng ch g trộm c p anh C và ông M không bi t nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ s h u. V t ch ng trong vụ án là 28 hộp g x , khối lư ng 1,028m3 c ng đã đư c xử lý trả lại cho Công ty Thảo Nguyên Xanh .
Tại Bản cáo trạng số: 17/CTr-VKS ngày 11/7/2018, VKSND huyện K đã truy tố Hồ Sỹ H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Lê H u T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện K vẫn gi nguyên quy t định truy tố các bị cáo về tội danh, điều lu t áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX tuyên bố Lê H u T và Hồ Sỹ H phạm tội: "Trộm cắp tài sản"; Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t hình sự (BLHS) năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Hồ Sỹ H t 10 đ n 12 tháng tù; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Lê H u T t 24 đ n 27 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự (BLTTHS) để tuyên tịch thu tiêu hủy tang v t của vụ án là 01 chi c kìm s t dài 20cm, cán bọc nhựa màu vàng; 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77m)
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án ph HSST theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H đã khai nh n hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và không tranh lu n gì với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo đều đã nh n th c đư c hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Sỹ Mộng không có ý ki n tranh lu n.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; VKSND huyện K và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của cơ quan ti n hành tố tụng và người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H phù h p với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và ph h p với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào chiều tối ngày 09/4/2018, l i dụng lúc công nhân của xư ng g Công ty Thảo Nguyên Xanh h t ca ra về h t và sự sơ h của bảo vệ Công ty, Lê H u T và Hồ Sỹ H đã lén l t chi m đoạt 28 hộp g có khối lư ng 1,028m3, trị giá thành tiền là 6.123.900 đồng. Do Lê H u T vào năm 2010, bị TAND huyện K xử phạt 08 tháng t về tội: "Trộm cắp tài sản" , đã chấp hành xong hình phạt; năm 2013, Trung lại bị TAND huyện T, tỉnh Bình Định xử phạt 24 tháng t c ng về tội: "Trộm cắp tài sản", bản án của TAND huyện T có áp dụng tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ lu t hình sự năm 1999, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa chấp hành xong ph n bồi thường thiệt hại. Vì v y, hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017; của bị cáo T đã phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thuộc tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm) như k t lu n của Viện Kiểm sát là có căn c , đ ng người, đ ng tội và đ ng pháp lu t.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Các bị cáo phạm tội không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H phạm tội l n đ u và thuộc trường h p t nghiêm trọng; các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà, đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn và sau khi phạm tội, các bị cáo đã ra đ u th . Đây là nh ng tình ti t giảm nhẹ đư c quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017.
ua ý ki n lu n tội của đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị hướng xử lý vụ án. Sau khi xem xét nhân thân của các bị cáo, đánh giá t nh chất, m c độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, c ng như xem xét các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của t ng bị cáo, HĐXX thấy rằng: Lê H u T và Hồ Sỹ H đều là người đã thành niên, có đ y đủ năng lực hành vi để nh n th c đư c việc lén lút chi m đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp lu t. Song do động cơ tham lam, tư l i cá nhân, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài ăn chơi nên các bị cáo đã có hành vi phạm tội như đã nói trên.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực ti p đ n tài sản của người khác đư c pháp lu t bảo vệ và gây mất tr t tự trị an trên địa bàn. Trong vụ án này, Lê H u T phạm tội thuộc tình ti t định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm đư c quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017; Hồ Sỹ H là người kh i xướng và t ch cực c ng Trung thực hiện hành vi phạm tội. Vì v y, c n phải xử phạt các bị cáo hình phạt t nghiêm kh c trong khung hình phạt bị truy tố, cách ly các bị cáo ra ngoài cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo tr thành người lương thiện và nâng cao hiệu quả phòng ng a chung.
Xét bị cáo T đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, hành phạm tội gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội đã ra đ u th ; bị cáo H phạm tội l n đ u và thuôc trường h p t nghiêm trọng, hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đ u th , thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên HĐXX c ng đã cân nh c để giảm nhẹ một ph n hình phạt áp dụng đối với t ng bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do Công ty Thảo Nguyên Xanh đã đư c nh n lại toàn bộ số g bị mất và không có yêu c u gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng của vụ án:
Xét các phương tiện đư c hai bị cáo sử dụng phạm tội là chi c xe mô tô hiệu DAM SAN biển số: 77M9-6212 của anh Lê H u C và chi c xe mô tô hiệu DETECH biển số 81S1-2460 của ông Hồ Sỹ M, do anh C và ông M không bi t các bị cáo sử dụng xe ch g trộm c p nên Cơ quan điều tra Công an huyện K đã xử lý trả lại cho chủ s h u là đ ng pháp lu t nên HĐXX không xem xét đ n n a.
Về các tang v t khác của vụ án là 01 chi c kìm s t dài 20cm cán bọc nhựa màu vàng và 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77)m do không còn giá trị sử dụng nên c n tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án ph HSST theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hồ Sỹ H 8 (tám) tháng tù, thời hạn t t nh t ngày bị cáo bị b t thi hành án.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê H u T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn t t nh t ngày bị cáo bị b t thi hành án.
- Áp dụng khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;
Tuyên tịch thu tiêu hủy tang v t của vụ án là 01 chi c kìm s t dài 20cm, cán bọc nhựa màu vàng và 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77)m.
(theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2018 giữa Công an huyện K và Chi cục THADS huyện K).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và Nghị quy t số 326 2016 UBTV H14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội về án ph , lệ ph Tòa án:
Buộc m i bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, các bị cáo , người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị TAND tỉnh Gia Lai xét xử ph c thẩm. Thời hạn trên đối với đại diện của người bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa đư c t nh t ngày nh n đư c bản án hoặc bản án đư c niêm y t theo quy định./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Gia Lai. -VKSND huyện K. -Công an huyện K. -Các bị cáo. -Người bị hại. -Người có QL,NVLQ. -Chi cục THADS huyện K. -Lưu HSVA,VPTA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ơ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phi n tòa L Văn Nguyên |