- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lầu Sái V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2018/HS-ST Ngày 24-01-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lò Văn Cường
Bà Ly Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2017/HSST ngày 02/01/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 11/01/2018 đối với bị cáo:
Lầu Sái V (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1970 tại huyện Th, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lầu Bùa S và bà Lỳ Thị M; Có vợ là Vàng Thị Ch và có 05 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/9/2017 đến ngày 22/9/2017, tạm giam từ ngày 22/9/2017 đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị Ch, sinh năm 1972, địa chỉ: Bản H, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên – Vắng mặt tại phiên tòa.
Người phiên dịch: Anh Thào A Bằng, SN 1994 – Có mặt
Trú tại: Trung tâm huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 19/9/2017 Lầu Sái V một mình đi xe máy đến bản Vang Hồ, xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé tìm mua thuốc phiện về sử dụng. Đến 14 giờ V đi vào trong bản Vang Hồ và mua được 01 gói thuốc phiện của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt với giá tiền 1.000.000 đồng. Mua được thuốc phiện người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đi đâu V không biết, còn V cất giấu số thuốc phiện mua được vào trong túi vải đeo trên người và quay về nhà, đi được 300m thì V bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé bắt quả tang tàng trữ trái phép thuốc phiện trên người, thu giữ vật chứng là 01 gói thuốc phiện; 01 chiếc túi vải màu xanh đen có dây đeo túi cũ đã qua sử dụng có hình bông hoa và hình con bướm; 01 điện thoại di động hiệu GIONEE L800 màu đen đỏ điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 chiếc xe máy DETECH màu đen biển kiển soát 27 S1-03661, số khung 149627, số máy 149627. V khai nhận mục đích V mua thuốc phiện về để sử dụng.
Ngày 20/9/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 791/GĐ-PC54 ngày 14/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lầu Sái V là thuốc phiện; Trọng lượng thuốc phiện thu giữ của Lầu Sái V là 71,88 gam.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 02/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Lầu Sái V để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lầu Sái V từ 12 đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án là số thuốc phiện và 01 chiếc túi vải, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe máy, trả lại ½ giá trị chiếc xe máy cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, trả lại điện thoại cho bị cáo và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lầu Sái V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lầu Thị Ch, tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị trình bày chiếc xe máy mà bị cáo dùng để đi mua ma túy là tài sản chung của vợ chồng, chị hoàn toàn không biết bị cáo dùng xe để đi mua ma túy, chị đề nghị các cơ quan chức năng trả lại ½ giá trị chiếc xe đó cho chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 19/9/2017 Lầu Sái V đang cất giấu trái phép 71,88 gam thuốc phiện trên người tại khu vực bản Nậm Vì, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi tàng trữ trái phép 71,88 gam thuốc phiện nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS, đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo có mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Xét thấy đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần xem xét, xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Lầu Sái V, quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 65,63 gam thuốc phiện còn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc túi màu xanh đen có dây đeo túi cũ đã qua sử dụng có hình bông hoa và hình con bướm, xét thấy đây là chiếc túi bị cáo đã dùng đựng thuốc phiện, hiện đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu GIONEE L800 màu đen đỏ điện thoại cũ đã qua sử dụng, xét thấy chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe máy DETECH màu đen biển kiển soát 27S1-03661, số khung 149627, số máy 149627, xét thấy chiếc xe máy này là phương tiện bị cáo dùng để đi mua thuốc phiện về sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, chiếc xe máy này là tài sản chung của bị cáo và vợ bị cáo (chị Vàng Thị Ch), chị Ch hoàn toàn không biết bị cáo dùng xe máy để đi mua ma túy. Do đó cần tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy để sung vào ngân sách nhà nước và trả lại cho chị Vàng Thị Ch ½ giá trị chiếc xe máy trên.
Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, theo Giấy chứng hộ nghèo năm 2017 (số 37) do UBND xã Ch cấp, đồng thời là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lầu Sái V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ vào Điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lầu Sái V 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 19/9/2017.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu, tiêu huỷ 65,63 gam thuốc phiện và 01 chiếc túi vải màu xanh cũ có dây đeo đã qua sử dụng có hình bông hoa và hình con bướm, là vật chứng vụ án Lầu Sái V.
Tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy DETECH màu đen biển kiển soát 27 S1-03661, số khung 149627, số máy 149627 để sung vào ngân sách nhà nước.
Trả lại cho chị Vàng Thị Ch ½ giá trị chiếc xe máy DETECH màu đen biển kiển soát 27 S1-03661, số khung 149627, số máy 149627.
Trả lại cho bị cáo Lầu Sái V chiếc điện thoại di động hiệu GIONEE L800 màu đen đỏ điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2018 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lầu Sái V.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Phong |